Triển khai, thực hiện Luật Bình đẳng giới trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

       A. CÔNG TÁC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN

       1. Công tác chỉ đạo

       - Để tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý nhằm từng bước giảm dần khoảng cách về giới trong lĩnh vực chính trị; Ban Dân tộc thường xuyên mở các Hội nghị triển khai cho cán bộ, công chức cơ quan và các sở, ban, ngành, đoàn thể; các huyện, thành phố nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trong toàn tỉnh (trong đó tỷ lệ nữ dự trên 40%). Qua đó, giao nhiệm vụ cụ thể và chỉ đạo địa phương xây dựng kế hoạch hoạt động cho ngành.

       - Lãnh đạo Ban Dân tộc đã chỉ đạo phòng Tuyên truyền và Địa bàn phối hợp với các phòng chức năng thuộc Ban, xây dựng Kế hoạch tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức, viên chức và người lao động trong phạm vi, lĩnh vực của ngành và Trưởng ấp, khóm, bí thư Chi bộ, cán bộ xã nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.

       - Bố trí, tạo điều kiện, cơ hội để nữ cán bộ, công chức, viên chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm, chức danh đảm nhiệm. Bên cạnh đó, tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ nữ, đảm bảo bình đẳng giới phù hợp với điều kiện của cơ quan, đơn vị.

       2. Công tác quán triệt, phổ biến giáo dục pháp luật về bình đẳng giới

       - Tiếp tục quán triệt Chỉ thị 32/CT-TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành tuân thủ pháp luật của cán bộ và nhân dân. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp đối với công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật. Tăng cường tuyên truyền Luật Bình đẳng giới nhằm nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên trong việc thực hiện bình đẳng giới cho cộng đồng, đặc biệt là giúp toàn ngành hiểu được trách nhiệm việc thực hiện bình đẳng giới.

       - Hằng năm, tiến hành rà soát, đánh giá lại đội ngũ cán bộ để có điều chỉnh, bổ sung cán bộ trẻ, cán bộ nữ có năng lực, phẩm chất, có triển vọng phát triển vào quy hoạch. Trên cơ sở quy hoạch cán bộ đã được duyệt, đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong đó chú trọng việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, nhất là ở cơ sở, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đảm bảo vững vàng về chính trị, có đủ năng lực quản lý, điều hành, thực thi công vụ, có kỹ năng hoạt động thực tiễn.

       - Mỗi năm, Ban Dân tộc lồng ghép tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật: Luật Bình đẳng giới tại cộng đồng và vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, người có uy tín...nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, vai trò, trách nhiệm của cán bộ, hội viên, đoàn viên và người có uy tín trong công tác tuyên truyền, vận động thực hiện tốt Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới; phát huy vai trò của nhân dân trong việc tuân thủ pháp luật tại cộng đồng dân cư góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững.

       - Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của nhân dân và phụ nữ, đặc biệt là nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trong chăm sóc sức khỏe, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, phòng chống HIV/AIDS được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú như vận động phụ nữ tham gia bảo hiểm y tế, vận động nam giới chia sẻ trách nhiệm trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Điều này đã tạo điều kiện để nam giới và nữ giới bình đẳng trong việc tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế.

       3. Công tác kiện toàn bộ máy, biên chế tại cơ quan, đơn vị để thực hiện nhiệm vụ bình đẳng giới

        - Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, nhằm thúc đẩy toàn xã hội thay đổi hành vi thực hiện bình đẳng giới, từng bước thu hẹp khoảng cách giới và nâng cao vị thế phụ nữ trong mọi lĩnh vực, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược quốc gia về bình đẳng giới. Nội dung chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới; nghiên cứu, xây dựng và phát triển các dịch vụ hỗ trợ thực hiện bình đẳng giới.

       - Nâng cao trình độ, năng lực, nhận thức về giới, bình đẳng giới, về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cho nữ cán bộ, công chức, người lao động trong cơ quan, tạo sự đổi mới trong công tác nữ công, củng cố, kiện toàn Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ trong hệ thống công đoàn. Tham mưu cho cấp uỷ việc quy hoạch đào tạo cán bộ nữ, giới thiệu những cán bộ nữ đủ tiêu chuẩn, điều kiện đưa vào nguồn quy hoạch, đề bạt tham gia bộ máy lãnh đạo các cấp.

       - Xây dựng, triển khai, thực hiện kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ giai đoạn 2011-2020 trong hệ thống công đoàn cấp mình, đưa vào nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng; khắc phục tư tưởng tư ti, an phận, níu kéo nhau của một bộ phận chị em, nêu cao tinh thần tự chủ, đoàn kết, vượt khó vươn lên để không ngừng tiến bộ, đóng góp ngày càng nhiều cho gia đình và xã hội.

       4. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực về bình đẳng giới cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cộng tác viên làm công tác bình đẳng giới

       - Tăng cường tuyên truyền Luật Bình đẳng giới nhằm nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, nhân viên người lao động trong việc thực hiện bình đẳng giới, từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Trong công tác quy hoạch cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế; từ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Ban Dân tộc thực hiện các chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ nữ, đã tiến hành quy hoạch lãnh đạo giai đoạn 2015 - 2020 là 5, nữ trong đó 3 nữ là cơ quan 2 nữ ở cơ quan đơn vị khác đã được phê duyệt.

       - Quy hoạch lãnh đạo Ban giai đoạn 2020 - 2025 là 6 nữ trong đó 5 nữ cơ quan và 1 nữ cơ quan đơn vị khác, quy hoạch trưởng phòng, phó trưởng phòng là 5 nữ. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới; quan tâm tuyển chọn cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo cơ quan, tổ chức là những người công tâm, trung thực, trong sáng, có kinh nghiệm làm công tác cán bộ, có tư duy đổi mới và phong cách làm việc dân chủ, sâu sát, khoa học.

       - Ban Dân tộc đang thực hiện Quyết định 402/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới” và Nghị quyết 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, tiếp tục làm tốt công tác quy hoạch, bổ nhiệm, điều động cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số phù hợp với năng lực, sở trường, vị trí việc làm, trong đó ưu tiên quy hoạch cán bộ, công chức, người dân tộc thiểu số thuộc nhóm rất ít người, là nữ, trẻ.

       5. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện bình đẳng giới

       - Qua thực tế kiểm tra, giám sát cho thấy, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở còn thiếu và chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên môn cơ bản, còn hạn chế về phương pháp tuyên truyền.

       - Một số địa phương chưa phân công cán bộ chuyên trách về bình đẳng giới, do vậy việc thực hiện chức năng về bình đẳng giới ở một số nơi vẫn còn mang tính hình thức và vẫn do Hội liên hiệp Phụ nữ thực hiện là chủ yếu. Nhận thức của các thành viên Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ ở cơ sở còn nhầm lẫn giữa nhiệm vụ của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ với hoạt động của Hội phụ nữ, kinh phí cho hoạt động còn ít...

       6. Công tác đảm bảo thực hiện đúng các quy định bình đẳng giới trong công tác tổ chức và hoạt động tại các cơ quan

       - Trong quá trình thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2020 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 về Chiến lược quốc gia bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020)  và các chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 - 2020. Để cụ thể hóa các nhiệm vụ công tác và các hoạt động hằng năm Ban Dân tộc đã tích cực phối hợp với các ngành, các cấp có liên quan triển khai lồng ghép với các hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số gắn với thực hiện vai trò nhiệm vụ của mình, thông qua nhiều hình thức tổ chức họp mặt đội ngũ cán bộ nữ và tuyên dương, biểu dương gương điển hình tiêu biểu nữ nhân kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3; ngày phụ nữ Việt Nam 20/10...  qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về bình đẳng giới và làm động lực thúc đẩy cho nữ giới phấn đấu trong từng vị trí, nhiệm vụ được giao ở tất cả các lĩnh vực trong cơ quan.

       - Ban Dân tộc tỉnh đã chú trọng đến công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ. Tính đến nay, tổng số công chức người lao động công tác tại cơ quan Ban Dân tộc là 23 người, trong đó có 11 nữ, chiếm tỷ lệ gần 50% cán bộ, công chức cơ quan, trong 5 phòng chuyên môn có 04 trưởng phòng, phó phòng là nữ. Cán bộ nữ luôn phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình.

       B. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

       1. Việc triển khai thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

       - Trong thời gian qua, được sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ đã tạo mọi điều kiện cho nữ giới vươn lên bằng năng lực, trí tuệ, bản lĩnh của mình. Công tác bố trí, sử dụng cán bộ nữ, trẻ được quan tâm đặc biệt, thể hiện trong các cơ quan, tổ chức, từng bước khẳng định vị thế vai trò của phụ nữ trong xã hội.

       - Kịp thời chuyển tải các nội dung chính sách, pháp luật về bình đẳng giới đến đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động. Ngoài ra, cơ quan thường xuyên thực hiện kiểm tra, giám sát nhằm đẩy mạnh việc xây dựng gia đình văn hóa, trong đó nhấn mạnh tiêu chí bình đẳng giới trong gia đình. Chú trọng xây dựng mô hình các câu lạc bộ xây dựng gia đình phát triển bền vững, hạnh phúc, bình đẳng và không có bạo lực, thu hút sự tham gia tích cực của nam giới vào các hoạt động này.

       - Các cấp uỷ đảng, chính quyền và các ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở đã xác định được trách nhiệm và vai trò lãnh đạo, chỉ đạo công tác bình đẳng giới. Các huyện, thành phố đã có kế hoạch chuyên đề về bình đẳng giới. Các cấp, các ngành, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng luôn phối hợp chặt chẽ trong việc đào tạo, bồi dưỡng công chức để đáp ứng nguồn nhân lực thời kỳ đẩy mạnh hội nhập và phát triển.

       - Chi bộ, lãnh đạo cơ quan Ban Dân tộc rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, luôn tạo mọi điều kiện để công chức nữ tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt chú trọng đến đội ngũ cán bộ trẻ có triển vọng, cán bộ nữ trẻ người dân tộc thiểu số, đồng thời phối hợp với các sở, ngành có liên quan chỉ đạo việc tổ chức các lớp bồi dưỡng theo kế hoạch đã phê duyệt.

       2. Công tác lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chương trình tại cơ quan

       - Ban Dân tộc luôn quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ nữ trẻ vào các vị trí quản lý nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Trong quy hoạch cán bộ lãnh đạo giai đoạn 2016 - 2020 và những năm tiếp theo có chú ý đến cán bộ nữ. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về giới, chú trọng các mục tiêu Thiên niên kỷ, như xóa bỏ định kiến về giới, đào tạo nghề, giới thệu việc làm và tăng cường đẩy mạnh xóa bỏ phân biệt giới trong lãnh đao, quản lý.

       - Để tăng cường công tác quản lý, tạo nguồn cán bộ nữ Ban Dân tộc luôn tham gia đầy đủ các Hội thảo, Tọa đàm của Ủy ban Dân tộc triển khai về vấn đề “Hội thảo tham vấn Kế hoạch hành động về tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020” ngoài ra còn phối hợp tham gia với các sở, ban, ngành có liên quan về hoạt động bình đẳng giới.

       3. Kết quả đạt được

        -  Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của nhân dân và phụ nữ, đặc biệt là nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trong việc chăm sóc sức khỏe, thực hiện kế hoạch hoá gia đình, phòng chống HIV/AIDS được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú như : Vận động phụ nữ tham gia bảo hiểm y tế, vận động nam giới chia sẻ trách nhiệm trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Điều này đã tạo điều kiện để nam giới và nữ giới bình đẳng trong việc tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế.

       - Bộ máy chính quyền ngày càng được củng cố và kiện toàn, các cơ quan thực hiện công tác bình đẳng giới và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ngày càng được quan tâm hơn, khoảng cách giới trong lĩnh vực giáo dục ngày càng được thu hẹp. Trong thời gian qua, ngành giáo dục có nhiều giải pháp nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ và trẻ em gái có cơ hội học tập, nâng cao trình độ hoc vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ như: Chương trình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỷ năng; chương trình đào tạo theo hình thức vừa học, vừa làm, học từ xa, du học...

       - Hiện nay, nhiều chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức nữ được ban hành trong tất cả các khâu của công tác cán bộ. Sở Nội vụ đã tham mưu với UBND tỉnh thực hiện lồng ghép chương trình hành động về giới vào chỉ tiêu đào tạo, tuyển dụng công chức, viên chức; Phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy hướng dẫn cơ quan, đơn vị và các địa phương nâng tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số vào quy hoạch; Xác định tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội hằng năm, nhằm thực hiện công tác tạo nguồn và quy hoạch dài hạn cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ, người dân tộc thiểu số, với các chỉ tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện, trong đó đặc biệt quan tâm đến cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số. Hỗ trợ việc nâng cao năng lực cho nữ lãnh đạo trẻ, nữ cán bộ dân tộc thiểu số, thông qua việc thực hiện các chương trình, dự án nâng cao năng lực; Tăng cường kiểm tra các quy định về độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm nữ vào các vị trí cán bộ chủ chốt của sở, ban, ngành cấp tỉnh, huyện, xã.

       4. Những hạn chế, vướng mắc trong tổ chức triển khai thực hiện

       - Mặc dù các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử đã có nhiều đổi mới, quy định rõ những chỉ tiêu, mục tiêu phát triển đội ngũ cán bộ nữ, song một số quy định còn chung chung, chưa được cụ thể hóa, chưa đồng bộ, thống nhất với yêu cầu của Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 về việc công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Bộ Chính trị và quy định của Luật Bình đẳng giới, dẫn đến hạn chế cơ hội thăng tiến và đóng góp của phụ nữ. Nghị quyết số 11/NQ-TW yêu cầu "thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm"; Luật Bình đẳng giới quy định bình đẳng về độ tuổi khi đi học, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, nhưng thực tế còn có những quy định phân biệt độ tuổi giữa nam và nữ trong các lĩnh vực trên. 

       - Nguyên nhân chính vẫn là do công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ nữ trong thời gian qua còn một vài nơi làm chưa tốt, có cơ quan, đơn vị bị hụt hẫng, không có nguồn cán bộ kế thừa để thay thế, nhất là những ngành cần có nhiều nữ. Mặt khác, nhận thức và đánh giá của cấp ủy, chính quyền và một số đơn vị cơ sở về vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ, công chức nữ chưa đầy đủ, vẫn còn biểu hiện xem nhẹ phụ nữ, bản thân một số cán bộ nữ còn ràng buộc gia đình, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên, nên làm hạn chế việc đưa cán bộ nữ vào vị trí lãnh đạo các ngành, các cấp.

       - Việc triển khai quy định lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế còn nhiều khó khăn, lúng túng và chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Nguyên nhân là do cán bộ làm công tác tham mưu còn hạn chế kiến thức kỹ năng về giới.

       - Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn có những chỉ tiêu cụ thể chưa đạt so với kế hoạch đề ra, có chỉ tiêu đạt nhưng chưa vững chắc; Dù có những tác động tích cực về chính sách chung, có những chuyển biến trong nhận thức, nhưng tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý so với mục tiêu đề ra vẫn còn hạn chế nhất định.

       - Việc triển khai chương trình và kế hoạch hành động ở các ngành, các cấp trong thời gian qua đôi lúc còn lúng túng, nhất là trong việc thực hiện lồng ghép tuyên truyền về giới vào các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ thường xuyên, hoặc đưa yếu tố giới vào việc hoạch định và thực thi chính sách, vào các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó, chưa tạo được tính pháp lý, xác định trách nhiệm trong thực hiện, nên kết quả đạt được còn hạn chế; việc tổng hợp, phản ánh báo cáo chưa đạt yêu cầu. Nhiều nghị quyết, chính sách liên quan về phụ nữ và bình đẳng giới đã được ban hành, nhưng trên thực tế một số nơi thực hiện hiệu quả chưa cao, thiếu kiểm tra, giám sát, uốn nắn, chỉ đạo chưa kịp thời. Đồng thời, còn phải đối mặt với những thách thức như: Bạo lực gia đình đối với phụ nữ, tình trạng gia tăng phụ nữ nhiễm HIV/AIDS, tệ nạn xâm hại tình dục trẻ em, chênh lệch giới tính.

       - Nhận thức của các cấp, các ngành còn một bất cập, một số nơi chưa chủ động triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới, còn ỷ lại hoặc nếu có hoạt động chỉ mang tính hình thức. Trách nhiệm đối với công việc gia đình là một trong những cản trở phụ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo do vậy ảnh hưởng tới thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Định kiến vẫn còn tồn tại trong nhân dân gây khó khăn trong việc triển khai thực hiện chính sách, một số phụ nữ còn tự ti, an phận.

       - Vẫn còn thiếu cán bộ làm công tác bình đẳng giới, đặc biệt ở địa phương, cơ sở. Kiến thức về giới, bình đẳng giới và kỹ năng lồng ghép bình đẳng giới của đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ làm công tác bình đẳng giới nói riêng còn yếu và thiếu. Nhiều nơi không bố trí được cán bộ chuyên trách mà chỉ bố trí cán bộ kiêm nhiệm làm công tác bình đẳng giới.

       - Công tác giáo dục tuyên truyền chưa được triển khai sâu rộng; Các hoạt động và hình thức chưa phù hợp với từng nơi, từng vùng và từng khu vực. Số lượng cán bộ nữ lãnh đạo ở sở, ban, ngành đoàn thể và địa phương còn ít. Hầu hết các cấp, các ngành chưa bố trí kinh phí cho các hoạt động bình đẳng giới, dẫn đến tình trạng các đơn vị chưa lập được dự toán kinh phí cần thiết bố trí cho các hoạt động này.

       - Việc lồng ghép giới và bình đẳng giới trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, cũng như các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội chưa được quan tâm đúng mức và còn mới nên việc xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật đảm bảo lồng ghép giới còn lúng túng, hạn chế nhất định. Nguồn kinh phí phân bổ việc thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật còn ít không đáp ứng nhu cầu truyền tải thông tin.

       - Việc phân công, công tác cho sinh viên cử tuyển sau khi ra trường còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là sinh viên nữ, do không có chỉ tiêu biên chế, công tác quy hoạch cán bộ, công chức còn khó khăn, nguyên nhân là do đào tạo chưa gắn với vị trí việc làm.

       C. ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ

       1. Các giải pháp hoàn thiện thể chế

       - Các văn bản quy định về tiêu chuẩn, điều kiện để được đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử… chưa đề cập đến biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới. Đó là, quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam; chưa xác định các giải pháp cụ thể để có thể đạt chỉ tiêu đề ra trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc lồng ghép giới. Trong thực tế, tỉ lệ cán bộ nữ được tham gia đào tạo, bồi dưỡng, tỉ lệ nữ trong quy hoạch, được bổ nhiệm, được giới thiệu ứng cử vẫn còn thấp. 

       - Đẩy mạnh việc xây dựng gia đình văn hóa bền vững, để từng bước bình đẳng giới trong gia đình; xây dựng kế hoạch triển khai bình đẳng giới tại cơ quan đơn vị và tập huấn tuyên truyền cho báo cáo viên về các luật và văn bản pháp luật có liên quan về giới và phòng, chống bạo lực gia đình; xây dựng mô hình điểm, nhằm nhân rộng trong vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

       - Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, lao động, việc làm...

       - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

       - Bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, văn hóa và thông tin.

       4. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành Luật Bình đẳng giới

       - Việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giảm biên chế là vấn đề khó khăn, phức tạp vì liên quan trực tiếp đến con người. Chính vì vậy, cần phải có quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên cũng như sự đồng thuận của nhân dân. Đồng thời, phải có cách làm khoa học, đồng bộ, quá trình thực hiện phải tiến hành từng bước và chặt chẽ. Hàng năm tỉnh nên tổ chức mở lớp tập huấn, tuyên truyền cho Báo cáo viên, Tuyên truyền viên.

       - Tăng chỉ tiêu số lượng đại biểu tham dự tuyên truyền hàng năm, nâng mức   hỗ trợ cho đại biểu nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu đi lại và phát triển kinh tế của địa phương.

       - Các sở, ban, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố Cà Mau phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong việc chỉ đạo thực hiện tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đi vào chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm.

       5. Đề xuất

       - Cần có chính sách cụ thể quy định thu hút, đào tạo, hỗ trợ, động viên, khuyến khích cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số tham gia vào bộ máy của Đảng và Nhà nước.

       - Có kế hoạch chỉ đạo các cơ quan truyền thông đại chúng tăng cường công tác tuyên truyền về bình đẳng giới, đa dạng hóa hình ảnh của nữ giới với các vai trò và nghề nghiệp khác nhau; góp phần xóa bỏ các định kiến, quan niệm không phù hợp về vai trò của nam và nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội

       - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với công tác cán bộ nữ; điều chỉnh các văn bản, chính sách có yếu tố có thể cản trở việc thực hiện bình đẳng giới như tuổi đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm, nghỉ hưu…với các kế hoạch và giải pháp cụ thể, rõ ràng.

       - Đẩy mạnh việc xây dựng gia đình văn hóa bền vững, để từng bước bình đẳng giới trong gia đình; xây dựng kế hoạch triển khai bình đẳng giới tại cơ quan đơn vị và tập huấn tuyên truyền cho Báo cáo viên về các luật và văn bản pháp luật có liên quan về giới và phòng, chống bạo lực gia đình; xây dựng mô hình điểm, nhằm nhân rộng trong vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

       - Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước cho công chức làm nhiệm vụ chuyên môn, cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số cán bộ dự nguồn trong thời gian tới. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác dân tộc cho cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành, người có uy tín và đồng bào các dân tộc; tăng cường tiếp xúc, đối thoại với đồng bào, nhất là về cơ chế chính sách thu hút nhân tài.  Tăng cường thực hiện chức năng đại diện của tổ chức Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam thông qua quy định trách nhiệm của các cấp Hội trong công tác cán bộ nữ; chủ động, tích cực tham mưu, đề xuất, tham gia xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách về công tác cán bộ nữ; phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu nguồn cán bộ nữ có chất lượng cho Đảng; tham gia có hiệu quả vào công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ nữ ở các cấp.

       - Nâng cao nhận thức giới, kỹ năng lồng ghép giới cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ tham mưu về công tác nhân sự tại các cơ quan, đơn vị, địa phương; xây dựng, phát huy năng lực và sức mạnh của đội ngũ chuyên gia giỏi về lĩnh vực lồng ghép giới. Phát triển các hoạt động dịch vụ gia đình có chất lượng nhằm hỗ trợ cán bộ nữ được bình đẳng hơn về cơ hội, tham gia và thăng tiến trên con đường chức nghiệp.

ThS. Nguyễn Duy Trường