Bệnh nhiễm khuẩn thường gặp trên cá chẽm và biện pháp phòng trị.

       Cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) hay có nơi còn gọi là cá vược, là đối tượng thuỷ sản có chất lượng thịt thơm, ngon, giá trị kinh tế cao và được tiêu thụ rộng rãi trên thế giới, cho nên, ngày càng có nhiều nơi phát triển mô hình nuôi cá chẽm thương phẩm ở các vùng nước mặn, lợ. Cá chẽm có khả năng thích nghi với nhiều hình thức nuôi như: nuôi trong lồng bè, nuôi trong ao đất, nuôi theo hình thức quảng canh…. với quy trình nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn tươi sống tự chế. Nguồn giống cá chẽm đã được chủ động sản xuất ở các trại giống trong nước. Ở Việt Nam nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng, có tiềm năng rất lớn để phát triển nghề nuôi cá chẽm quy mô thâm canh, công nghiệp. Tuy nhiên, nghề nuôi cá chẽm ở nước ta còn gặp một số hạn chế do thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu vẫn chưa thật sự ổn định. Bên cạnh đó, vấn đề dịch bệnh trên cá chẽm cũng là thách thức lớn đối với nghề nuôi cá chẽm. Trong đó, một số bệnh do virus phổ biến thường gặp trên cá chẽm là nodavirus thuộc họ Nodaviridae gây bệnh hoại tử thần kinh ở cá chẽm giống, và nhiều nhóm ký sinh trùng được tìm thấy ở cá chẽm như: sán lá đơn chủ, sán lá song chủ… gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe của cá. Đặc biệt, cá chẽm là đối tượng rất nhạy cảm với nhiều chủng vi khuẩn được nghiên cứu, phát hiện như sau:

       Những tác nhân gây bệnh nhiễm khuẩn:

       Bệnh do vi khuẩn Streptococcus iniae được báo cáo ở nhiều loài cá nước ngọt và cá biển ở 15 quốc gia khác nhau thuộc 4 châu lục, gồm châu Phi, châu Á, châu Úc và châu Âu. Bệnh đã và đang là mối đe dọa cho nhiều loài cá nuôi ở cả môi trường nước mặn, lợ và nước ngọt. Trên cá chẽm, bệnh do vi khuẩn S. iniae được báo cáo lần đầu tiên vào năm 1999 tại Úc (Bromage et al., 1999), sau đó bệnh tiếp tục xuất hiện trên cá chẽm nuôi tại Úc năm 2006 (Creeper and Buller, 2006), nuôi tại Thái Lan năm 2010 (Suanyuk et al., 2010). Ở Việt Nam, bệnh do S. iniae được báo cáo xuất hiện đầu tiên trên cá chẽm nuôi tại Khánh Hòa và gây chết cá vào năm 2008 (Tran Vi Ich and et al., 2013). Trong vụ nuôi năm 2014, hiện tượng cá chẽm chết với dấu hiệu xuất huyết trên cơ thể được báo cáo ở vùng nuôi cá chẽm tại Thừa Thiên Huế… dịch bệnh S. iniae  đã gây ra tổn thất rất lớn cho nghề nuôi cá chẽm.

       Bệnh do các chủng vi khuẩn Vibrio sp. được xem là mối nguy hại thường trực cho các đối tượng nuôi biển nói chung và cá chẽm nói riêng. Trong đó chủng Vibrio harveyi là một trong những tác nhân chiếm tỷ lệ phổ biến nhất. Tuy nhiên, đã có nhiều nghiên cứu cho thấy độc lực của các chủng V. harveyi mạnh hay yếu tùy thuộc vào sự có mặt của các gen độc lực ở chủng vi khuẩn này.

       Dấu hiệu bệnh lý nhiễm khuẩn thường gặp:

       Bệnh do vi khuẩn S. iniae trên cá chẽm gây xuất huyết trên da, vây, mắt cá lồi có màu đục, bệnh nặng thì mắt cá bị hư. Một số dấu hiệu khác như lở loét ngoài da hay xuất huyết ở các gốc vây, nắp mang, và phân cá có màu trắng. Bệnh do S. iniae có thể gây ra tỷ lệ chết lên đến 70% ở giai đoạn cá chẽm giống và cá chẽm nuôi thương phẩm. 

       Cá chẽm khi nhiễm khuẩn V. harveyi thường có màu đen sậm và hay bơi lòng vòng trên mặt nước. Các dấu hiệu bệnh lý bên ngoài như mù mắt, xơ đuôi, rụng vảy, xuất huyết ngoài da, lở loét. Giải phẫu bên trong nội quan của cá chẽm cho thấy, có hiện tượng tích dịch ở xoang bụng, xuất huyết gan, sưng thận và dịch lỏng ở ruột. Theo nghiên cứu của Trần Vĩ Ích và ctv., 2022, thì vi khuẩn V. harveyi có độc lực khá cao với liều vi khuẩn gây chết 50% quần đàn cá  chẽm là 104,25 CFU/cá khi cảm nhiễm vào xoang bụng.

Dấu hiệu bệnh lý cá chẽm nhiễm khuẩn (Ảnh: Tg)
(a) phân trắng; (b) dịch tiêu hoá; (c) lở loét;(d) mù mắt.

       Phương pháp chẩn đoán bệnh nhiễm khuẩn:

       Phương pháp phổ biến dùng để phát hiện vi khuẩn trên cá gồm phương pháp sinh hóa truyền thống hoặc sử dụng bộ kit API 20Strep (BioMerieux).

       Quy trình duplex PCR giúp phát hiện nhanh nhóm tác nhân gây bệnh và cho kết quả chẩn đoán chính xác tác nhân gây bệnh.

       Phòng, trị bệnh cá chẽm nhiễm khuẩn:

       Trong quá trình ương nuôi cá chẽm thì người nuôi định kỳ từ 10-15 ngày phải vệ sinh, sát khuẩn bể ương, ao/bè nuôi. Đồng thời, nên sử dụng các chế phẩm sinh học xử lý nước, sử dụng các men vi sinh, vitamin bổ sung vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng cho cá. Kiểm soát tốt thức ăn tránh thức ăn còn dư thừa trong hệ thống nuôi.

       Khi phát hiện cá có dấu hiệu nhiễm khuẩn thì tiến hành kiểm tra tác nhân gây bệnh và sử dụng các loại kháng sinh còn nhạy cảm với tác nhân để trộn thức ăn cho cá ăn từ  3-5 ngày liên tục cá sẽ khỏi bệnh. Theo kết quả khảo sát kháng sinh đồ cho thấy, vi khuẩn S. iniae phân lập trên cá chẽm thì đã kháng với một số loại kháng sinh như: colistin sulfate; flumequine và tỏ ra nhạy cảm với các kháng sinh erythromycin, cefotaxime, doxycycline và florfenicol. Thời gian ngừng sử dụng kháng sinh phải được thực hiện nghiêm túc và có trách nhiệm để tránh sự phát triển của chủng vi khuẩn kháng thuốc và tồn lưu kháng sinh trong môi trường. Hiện nay đã có các nghiên cứu, điều chế và thử nghiệm các loại vaccine phòng một số bệnh do virus, vi khuẩn, kể cả ký sinh trùng trên cá đã được tiến hành. Kết quả bước đầu đã cho thấy hiệu quả của vaccine giúp cá chẽm kháng được bệnh nguy hiểm thường gặp, từ đó giúp cho việc nuôi cá chẽm được phát triển hơn và đạt được mục tiêu nuôi cá bền vững trong tương lai.

Ths. Phạm Thanh Hương - Trường Cao đẳng cộng đồng Cà Mau

       Tài liệu tham khảo:
       Nguyễn Bảo Trung, Trần Hữu Tính, Trần Thị Tuyết Hoa và Từ Thanh Dung, 2013. Phân lập, định danh và xác định tính kháng thuốc của vi khuẩn Streptococcus iniae trên cá chẽm (Lates calcarifer). Hội nghị Khoa học trẻ ngành thuỷ sản toàn quốc lần thứ IV tại Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.

       Nguyễn Thị Thuỳ Giang, 2022. Chiến lược phát triển vaccine công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản. Tạp chí Khoa học - Công nghệ thuỷ sản. Số 4/2022.

       Pornpawit Tanpichai, Surachart Chaweepack, Saengchan Senapin, Patharapol Piamsomboon and Janenuj Wongtavatchai, 2023. Immune Activation Following Vaccination of Streptococcus iniae Bacterin in Asian Seabass (Lates calcarifer, Bloch 1790).  Vaccines 2023. https://www.mdpi.com/2076-393X/11/2/351.

       Trần Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Trang Huyền và Hồng Mộng Huyền, 2016. Phát hiện nhanh Streptococcus agalactiae và Streptococcus iniae từ mẫu mô cá bằng kỹ thuật Duplex. Tạp chí khoa học Đại học Cần Thơ. Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 46 (2016): 111-117.

       Trần Vĩ Ích, Trang Sĩ Trung, Nguyễn Công Minh, Nguyễn Thị Hải Dương và Nguyễn Thị Kim Cúc, 2022. Một Số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Vibrio harveyi gây bệnh xuất huyết lỡ loét ở cá chẽm nuôi tại Khánh Hoà. Tạp chí Khoa học - Công nghệ thuỷ sản. Số 3/2022.