Kết quả thực hiện dự án Nuôi sò huyết (Anadara granosa) kết hợp tôm sú trong vuông rừng – tôm tại xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau

       I. ĐẶT VẤN ĐỀ

       Trong những năm qua, hiệu quả từ mô hình nuôi sò huyết và tôm sú kết hợp ở Đồng bằng Sông Cửu Long mang lại nhiều kết quả quan trọng như mô hình nuôi sò huyết thực hiện tại xã Long Khánh, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (Trung tâm Khuyến nông tỉnh Trà Vinh, 2018) năng suất nuôi 2,46 tấn/ha, lợi nhuận trên 80 triệu đồng/hộ; mô hình nuôi sò huyết kết hợp với tôm sú ở huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Nguồn: Báo Khoa học kỹ thuật tỉnh Kiên Giang, 2020) lợi nhuận từ sò huyết trên 50 triệu đồng/hộ, góp phần giảm nghèo bền vũng tại địa phương.

       Tại tỉnh Cà Mau nghề nuôi sò bắt đầu phát triển từ những năm 2000, các mô hình nuôi sò huyết chủ yếu là: nuôi trên bãi triều, nuôi kết hợp trong ao nuôi tôm. Nguồn giống sò huyết phục vụ cho các mô hình chủ yếu khai thác từ tự nhiên. Quá trình thu hoạch và bảo quản sò giống thường kéo dài trước khi cung cấp cho người nuôi. Do đó tỷ lệ hao hụt do sức đề kháng của sò giống giảm trong quá trình vận chuyển, dẫn đến tỷ lệ sống của sò huyết nuôi thường bị ảnh hưởng rất lớn. Hiện nay, nông dân huyện Đầm Dơi, Cái Nước, Năm Căn, Ngọc Hiển đang phát triển nhiều mô hình chuyên canh sò huyết hoặc nuôi sò huyết kết hợp với tôm sú. Trong đó, mô hình nuôi sò huyết 02 giai đoạn được ngành chuyên môn nhận định mang tính khả thi cao, phù hợp với thổ nhưỡng địa phương.

       Từ thực tiễn sản xuất của bà con nông dân trong tỉnh, trong thời gian qua đối với huyện Ngọc Hiển nói riêng và tỉnh Cà Mau nói chung, nghề nuôi sò huyết kết hợp trong những vuông nuôi rừng - tôm của bà con cho kết quả khá tốt. Tuy nhiên, thời gian gần đây tình hình sản lượng sò nuôi giảm đáng kể do một số nguyên nhân sau: (i) nguồn giống kém chất lượng; (ii)  thả với diện tích lớn, không bao ví, khó chăm sóc và quản lý; (iii) rong đáy phát triển và nền đáy bị ô nhiễm khó xử lý, ảnh hưởng đến sò huyết; (iv) tỷ lệ hao hụt cao; (v) năng suất thấp. Do đó cần phải tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề trên là hết sức cần thiết, vì vậy Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng dự án “Nuôi sò huyết (Anadara granosa) kết hợp tôm sú trong vuông rừng – tôm tại xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau” để tạo ra mô hình nuôi phù hợp nhằm giải quyết công ăn việc làm cho lực lượng lao động nhàn rỗi của địa phương, đa dạng đối tượng nuôi, thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển bền vững.

       II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

       1. Hiện trạng cơ sở hạ tầng vùng dự án

       - Vị trí địa lý: Xã Tam Giang Tây nằm ở phía đông nam của huyện Ngọc Hiển có diện tích tự nhiên 11.014,32 ha với 14 ấp, phía đông giáp xã Tam Giang Đông, phía bắc giáp xã Tam Giang, phía tây giáp xã Hàng Vịnh, huyện Năm Căn, phía nam giáp biển đông, có bờ biển dài 11 km và có cửa sông thông ra biển, dân số 2.485 hộ/11.544 khẩu, có 04 dân tộc sinh sống, dân tộc Kinh, Khơ me, Mường, Thái (trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số). Điều kiện sinh sống tập trung theo từng cụm dân cư. Đời sống của nhân dân sống chủ yếu khai thác, đánh bắt biển và nuôi trồng thủy sản.

       - Về nguồn nước: Địa điểm thực hiện dự án gần các sông lớn và cửa biển cung cấp nguồn nước chính cho nuôi tôm của huyện, trong nước mang theo lượng phù sa, đây là điều kiện phù hợp để phát triển nuôi sò huyết. Mỗi hộ nuôi đề có cống cấp, thoát  nước để dễ dàng, thuận lợi trong việc nuôi sò huyết kết hợp với tôm sú.

       - Giao thông: Có hệ thống giao thông đường thủy, bộ rất thuận lợi để vận chuyển vật tư và sản phẩm thu hoạch có khối lượng lớn, vận chuyển đường dài.

       - Về mặt bằng: Dự án thực hiện tại 60 hộ trong vuông nuôi rừng tôm kết hợp, vị trí nuôi sò huyết được khoanh bao riêng trên trảng với diện tích 2.000 m2/hộ, mực nước trảng sâu từ 0,4 – 0,6 cm.

- Về cơ sở vật chất, thiết bị chủ yếu: Cơ quan chủ trì, chủ nhiệm dự án và các đơn vị phối hợp, các hộ  nuôi trồng thủy sản có đủ năng lực và trang thiết bị để triển khai thực hiện dự án. Cụ thể như: Cống, đục xổ tôm, cây làm khu nuôi sò, lưới mành, các dụng cụ sản xuất khác, .…

       - Về nguyên vật liệu: Ngoài các phần dự án hỗ trợ, các chủ hộ nuôi tôm có khả năng tài chính đáp ứng nhu cầu về nguyên vật liệu thực hiện dự án.

       - Nhân lực triển khai: Cơ quan chủ trì sẽ thành lập một tổ cán bộ kỹ thuật gồm 06 thành viên có trình độ chuyên môn phù hợp tham gia thực hiện dự án; đồng thời các hộ nuôi tôm đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản kết hợp trong một thời gian dài và đạt được nhiều thành công trong sản xuất, có tâm huyết để thực hiện dự án, có nhân công sẳn có tại gia đình và có năng lực tài chính để thực hiện dự án ngoài kinh phí nhà nước hỗ trợ.

       - Về bảo vệ môi trường: Thực hiện đúng quy định về nuôi tôm, không sử dụng hóa chất, kháng sinh cấm trong nuôi trồng thủy sản của Bộ Nông Nghiệp.

       2. Địa điểm, thời gian, quy mô thực hiện dự án

       - Địa điểm thực hiện dự án: Nằm trong vùng quy hoạch nuôi tôm quảng canh cải tiến của huyện, có điều kiện kết cấu hạ tầng đảm bảo phục vụ cho sản xuất, đáp ứng yêu cầu của quy trình thuộc ấp Dinh Cũ, xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

       - Thời gian: Từ tháng 12/2020 – 12/2021.

       - Quy mô: Dự án triển khai tại 02 Tổ hợp tác (60 hộ): Tổ Hợp tác Ông Thuyền (30 hộ) và Tổ Hợp tác Ông Kiểng (30 hộ) với tổng diện tích nuôi kết hợp là 266 ha, trong đó diện tích bao ví nuôi sò huyết là 12 ha.

       III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

       1. Quy trình kỹ thuật thực hiện dự án

       Sơ đồ kỹ thuật nuôi áp dụng cho dự án như sau:

* Quy trình kỹ thuật công nghệ nuôi sò huyết kết hợp với tôm sú:

       1.1. Chuẩn bị cải tạo vuông nuôi

       Thực hiện các bước như sau:

       - Cải tạo vuông nuôi: Lấy nước vào ngâm và xả 2 - 3 lần để rửa trôi phèn, bịt kín các hang mọi, ....; bón vôi: Sử dụng vôi nông nghiệp CaCO3 bón với liều lượng 200 kg/ha. Phơi vuông từ 2 - 3 ngày.

       - Xây dựng khu vực nuôi sò huyết: chọn mặt trảng có diện tích khoảng 2.000 m2, xung quanh được cắm bằng cây đước, dà, ... với khoảng cách 1 – 1,5 m cắm 1 cây, chiều dài cây cắm 1,5 – 1,8 m. Sau đó rào khu vực nuôi bằng lưới mành mắc lưới 5 mm, chiều cao lưới từ 1 – 1,2 m, đảm bảo không để cua, còng, ... vào khu vực nuôi.

       - Lấy và xử lý nước: Sau khi cải tạo xong, chọn con nước tốt lấy vào vuông qua cống xổ. Mực nước lấy vào vuông từ 1,2 m, mực nước trên trảng 0,4 - 0,6 m. Sau 2 ngày và tiến hành diệt cá tạp bằng Saponine với liều lượng 15 kg/1000 m3 nước. 

       - Sử dụng chế phẩm sinh học đậm đặc liều lượng 2 lít/8.000 m3 (2 lít men + 2 lít mật đường+ 20 lít nước sạch+ 2 kg cám gạo ủ kín 5 - 7 ngày) để làm sạch môi trường, đồng thời kết hợp với việc ủ cám gạo sẽ tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho sò, tôm giống giai đoạn mới thả.

       - Kiểm tra các yếu tố môi trường vuông nuôi (pH, độ mặn, độ, độ kiềm, độ trong, ...) trước khi thả giống đều nằm trong ngưỡng thích hợp như sau:

       + pH: 7.5 đến 8.5

       + Độ mặn từ 15 đến 25 ‰

       + Độ kiềm từ 80 đến 120 ppm

       + Nhiệt độ từ 28 – 300C

       + Độ trong từ 25 đến 30 cm

       + Màu nước phải là xanh vỏ đậu hoặc nâu nhạt.

       1.2. Chọn và thả giống

       a. Chọn giống

       - Sò huyết giống: lựa chọn sò giống của Hợp tác xã Đồng Tiến có  cơ sở ương dưỡng sò tự nhiên tại ấp Xẻo Sâu, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân (thuộc khu vực Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau). Độ mặn chênh lệch giữa khu vực ương dưỡng và khu vực nuôi không quá 5‰, sò mạnh, kích cỡ tương đối, .... mật độ thả 30 con/m2 kích cỡ 900 con/kg.

       Lưu ý: Trước khi thả sò huyết, chủ nhiệm dự án, các thành viên và đại diện 02 Tổ hợp tác lấy mẫu về thả (60 hộ, mỗi hộ thả thử từ 0,5 - 1 kg, sau 07 ngày kiểm tra tỷ lệ sống của sò đạt trên 90%. Tiến hành ký hợp đồng và bắt giống thả.

       Lưu ý: Trước khi thả sò huyết, chủ nhiệm dự án, các thành viên và đại diện 02 Tổ hợp tác lấy mẫu về thả (60 hộ, mỗi hộ thả thử từ 0,5 - 1 kg, sau 07 ngày kiểm tra tỷ lệ sống của sò đạt trên 90%. Tiến hành ký hợp đồng và bắt giống thả.

913

Hình 1: Sò huyết giống

       - Tôm sú giống: Nguồn tôm giống của địa phương được chọn theo tiêu chuẩn: TCVN:8398:2012 từ cơ sở cung cấp tôm giống uy tín và có hồ sơ chứng minh nguồn gốc tôm giống của các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền cấp chứng nhận, cỡ giống từ PL 12 – 15, tôm giống được xét nghiệm PCR trước khi thả, mật độ 2 con/m2/vụ.

fcb8740c39becbe092af

Hình 2: Tôm sú giống

       b. Thả giống

       - Sò giống: sò được vận chuyển bằng phương tiện thủy, sò giống cho vào bao bố được làm ướt để giữ ẩm, trọng lượng từ 20 – 30 kg/bao, thời gian vận chuyển từ 3 – 5 giờ, vận chuyển vào lúc trời mát để tránh sốc nhiệt độ sò giống; cách thả: sò giống đem về được thả bằng cách cho các bao giống lên xuồng (loại nhỏ), mở miệng bao di chuyển xuồng và rải sò giống theo từng đường thẳng, mỗi đường cách nhau 1 – 2 m.

01