Ngành khoa học và công nghệ 65 năm xây dựng và phát triển.

       Trong suốt chặng đường 65 năm xây dựng và phát triển, ngành khoa học và công nghệ (KH&CN) đã không ngừng phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao phó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhằm ghi nhận những đóng góp của khoa học và công nghệ Việt Nam, tại Điều 7 Luật khoa học và công nghệ năm 2013, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18/6/2013 đã quy định “Ngày 18 tháng 5 hằng năm là Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam”. Nhân kỷ niệm 65 năm (1959-2024) xây dựng và phát triển ngành KH&CN Việt Nam năm nay (18/5), Tập san Thông tin KH&CN, xin trân trọng gửi đến quý bạn đọc bài viết “NGÀNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 65 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN”.

       I. Ý NGHĨA VÀ LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA NGÀY KH&CN VIỆT NAM 18/5

       Bộ Khoa học và Công nghệ, tiền thân là Ủy ban Khoa học Nhà nước được thành lập theo Sắc lệnh số 16 - SL ngày 04/3/1959 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 18/5/1963, tại Đại hội lần thứ nhất Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam, bàn về mối quan hệ giữa khoa học và sản xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động, không ngừng cải thiện đời sống của Nhân dân”, lời căn dặn của Người đã trở thành kim chỉ nam cho hoạt động KH&CN nước nhà. Từ đó đến nay, ngày 18/5 đã trở thành ngày truyền thống, ngày hội quan trọng của những người làm công tác nghiên cứu, quản lý, cán bộ của ngành KH&CN trên cả nước. Điều có ý nghĩa là ngày KH&CN Việt Nam gắn liền với kỷ niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đó chính là ngày mà hơn 60 năm trước Bác Hồ đã gặp gỡ các nhà khoa học Việt Nam tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất Hội phổ biến Khoa học kỹ thuật Việt Nam, và như một sự tình cờ may mắn, ngày KH&CN Việt Nam cũng liền kề với ngày sinh nhật của Bác Hồ 19/5.

       Việc quy định và thực hiện Ngày KH&CN Việt Nam không chỉ nhằm tôn vinh đội ngũ những người làm công tác KH&CN, mà còn là cơ hội để chính họ trình diễn các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tuyên truyền nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về KH&CN, quan tâm đầu tư và ứng dụng KH&CN vào sản xuất và đời sống, đồng thời động viên, khích lệ và nuôi dưỡng niềm đam mê nghiên cứu khoa học của thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên, thế hệ tương lai của nền KH&CN nước nhà. Lễ kỷ niệm là “điểm hẹn” thường niên để cộng đồng KH&CN tổ chức các hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm ghi nhận, tôn vinh những nỗ lực của ngành KH&CN đóng góp cho kho tàng tri thức cũng như phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Ngày 18/5/1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và chúc mừng Đại hội Đại biểu Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam toàn quốc lần thứ nhất (tiền thân của Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam, Ảnh: St

       II. NGÀNH KH&CN VIỆT NAM NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN

       Ngay từ giai đoạn đầu thành lập (1959 - 1975), khi cả dân tộc đang dồn sức cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, KH&CN Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Khoa học Nhà nước đã trở thành một lực lượng hậu phương quan trọng. Một mặt, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nâng cao năng suất lao động và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Mặt khác, chủ động và sáng tạo tham gia phát triển tiềm lực kỹ thuật quân sự để chống trả cuộc chiến tranh với kỹ thuật cao của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Với tiềm lực sơ khai nhưng trong giai đoạn này, hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động đã trở thành phong trào sâu rộng trên toàn miền Bắc, góp phần thực hiện thắng lợi các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Các nhà khoa học Việt Nam đã có được các công trình nghiên cứu ứng dụng giống cây mới và quy trình gieo trồng tiên tiến, bảo đảm lương thực chi viện cho miền Nam; các công trình y dược về sốt rét, lây nhiễm, da liễu, ngoại khoa đã phục vụ kịp thời việc chăm sóc sức khỏe nhân dân và lực lượng quân đội trên chiến trường; hệ thống các công trình nghiên cứu kỹ thuật quân sự chống nhiễu ra - đa, cải tiến tên lửa phòng không, rà phá bom, mìn, thủy lôi từ trường… là những dấu mốc quan trọng trong quá trình trưởng thành của lực lượng KH&CN Việt Nam, góp phần cùng với quân và dân cả nước đánh thắng cuộc chiến tranh với kỹ thuật cao của đối phương, hoàn thành sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

       Bước sang thời kỳ hòa bình thống nhất đất nước, từ năm 1975 đến nay, KH&CN đã cùng với nhân dân cả nước nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế trong hoàn cảnh bị bao vây cấm vận đầy khó khăn, thử thách. Phối hợp chặt chẽ với các ngành kinh tế, ngoại giao, an ninh, quốc phòng, KH&CN Việt Nam đã tham gia tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước do Đảng và Nhà nước ta khởi xướng, xóa bỏ cơ chế bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế, phát huy mọi nguồn lực để giữ vững ổn định chính trị và thực hiện thành công công cuộc Đổi mới. KH&CN đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các công trình khoa học đã cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng; bước đầu làm rõ cơ chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; khẳng định chủ quyền quốc gia đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Một số lĩnh vực KH&CN mới về vũ trụ, y sinh, hạt nhân đã được hình thành phát triển. Khoa học đã nghiên cứu tiếp cận làm chủ được công nghệ nano, tế bào gốc, giải mã gen cây trồng, vật nuôi các công nghệ về xây dựng nhà máy thủy điện,  thiết bị nâng hạ với tải trọng lớn; công nghệ chế tạo giàn khoan dầu khí tự nâng ... Các kết quả nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ KH&CN về giống, quy trình canh tác đã đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong nông nghiệp, Việt Nam trở thành quốc gia gần như hàng đầu thế giới về năng suất và sản lượng xuất khẩu lúa gạo, hạt tiêu, hạt điều, cao su, cá tra, hải sản... Việt Nam là quốc gia tự nghiên cứu, sản xuất được nhiều loại vắc xin phòng các bệnh hiểm nghèo và tiêm chủng mở rộng, cũng đã thành công trong lĩnh vực ghép tạng và đa tạng trên người và gần như dẫn đầu khu vực về phẫu thuật nội soi, giải trình tự gen; đã làm chủ quy trình phân lập, bảo quản tế bào gốc… Chúng ta cũng đã làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo và sử dụng vũ khí, khí tài, phương tiện hiện đại, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong tình hình mới…

       Cùng với những đổi mới căn bản trong công tác quản lý, tiềm lực KH&CN của đất nước đã được tăng cường, nâng cao chỉ số đổi mới sáng tạo và có bước phát triển rõ rệt. Hệ thống cơ quan khoa học bắt đầu từ 8 viện nghiên cứu, đến nay có trên 2.500 viện, trung tâm nghiên cứu thuộc mọi thành phần kinh tế.  Cả nước có trên 4,3 triệu người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, trong đó có trên 24,3 nghìn tiến sĩ (trong đó có trên 12.000 tiến sĩ hoạt động trong các lĩnh vực KH&CN. Kinh phí đầu tư cho KH&CN tuy chưa lớn nhưng đã được tăng đáng kể từ ngân sách nhà nước và các nguồn lực xã hội khác. Hạ tầng thông tin và cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị, phòng thí nghiệm phục vụ công tác nghiên cứu, ứng dụng KH&CN được nâng cấp và cải thiện. Quan hệ hợp tác quốc tế về KH&CN được mở rộng với trên 100 nước, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Trong 65 năm qua, Bộ KH&CN với vai trò là cơ quan tham mưu cho Đảng và Chính phủ quản lý thống nhất về hoạt động KH&CN trong phạm vi cả nước, đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, khẳng định là nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xã hội phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. 

       III. CHẶNG ĐƯỜNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH KH&CN TỈNH CÀ MAU

       Đối với tỉnh Cà Mau, Sở KH&CN tiền thân là Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Minh Hải, được thành lập ngày 23/9/1979. Có chức năng quản lý nhà nước về các mặt hoạt động KH&CN ở địa phương. Tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao KH&CN, đổi mới sáng tạo, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ hạt nhân, quản lý nhà nước về đo lường, chất lượng hàng hóa phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội… Từ khi chia tách, tái thành lập từ Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Cà Mau ngày 01/01/1997, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Cà Mau chuyển từ thị xã Bạc Liêu về thị xã Cà Mau, điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, trụ sở làm việc chật hẹp, đội ngũ công chức, viên chức (CCVC) vừa thiếu, yếu chưa được đào tạo chuyên sâu. Lúc này, Sở có 04 phòng chức năng và 02 đơn vị trực thuộc với số lượng công chức, viên chức chưa đến 30 người, trong đó trình độ đại học 19 người, trung cấp 7 người. Đến nay Sở sau khi sắp xếp lại bộ máy tổ chức từ 06 phòng chức năng còn lại 4 và 03 đơn vị trực thuộc, tổng số công chức, viên chức và người lao động hiện nay là 103 người, trong đó trình độ sau đại học gồm: 4 Tiến sĩ, 20 Thạc sĩ, còn lại hầu hết là Đại học. Cơ bản đội ngũ CCVC ngành KH&CN có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Công chức, viên chức và NLĐ Sở KH&CN Cà Mau

       Về cơ sở vất chất và trang thiết bị kỹ thuật, hiện nay trụ sở làm việc của Sở và các đơn vị trực thuộc được đầu tư xây dựng khang trang, theo tiêu chuẩn quy định. Các trang thiết bị, nghiên cứu, kiểm định, thử nghiệm được tăng cường đầu tư như: tủ ấm, tủ ấm kỵ khí CO2¬; tủ an toàn sinh học, tủ lạnh âm sâu, hệ thống Realtime PCR, thiết bị đo hàm lượng DNA/RNA, tủ thao tác sinh học phân tử, máy ly tâm lạnh; hệ thống quang phổ hấp thu nguyên tử AAS, thiết bị chưng cất đạm Kjeldahl tự động, máy lọc nước siêu sạch dùng trong sinh học phân tử và vi sinh,... đã từng bước được đầu tư hoàn thiện và nâng cao năng lực thử nghiệm, đủ điều kiện thực hiện xét nghiệm, kiểm nghiệm về các chỉ tiêu liên quan đến nông, lâm, thủy sản, thực phẩm, môi trường, bệnh học thủy sản, cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực hiện các dịch vụ phân tích, kiểm nghiệm phù hợp theo tiêu chuẩn. Phòng thí nghiệm được công nhận phù hợp theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005, ISO/IEC 17025: 2017 và được công nhận mã số VILAS 248 rồi 617 và đã được: Cục An toàn vệ sinh thực phẩm - Bộ Y tế chỉ định cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và PTNT cấp giấy chứng nhận người kiểm định giống cây trồng nông nghiệp; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chứng nhận hoạt động thử nghiệm và đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường và chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm các hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường…Kết quả phân tích, thử nghiệm những năm qua được 89.851 lượt chỉ tiêu các loại.

       Hoạt động quản lý về Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (TCĐLCL) có bước phát triển vượt bậc các thiết kiểm định điện, nước, các phương tiện đo taxximet, xăng dầu, các đơn vị đo trọng lượng, khối lượng, độ dài…được đầu tư. Kết quả 27 năm qua đã kiểm định được 563.500  lượt phương tiện đo các loại, tiếp nhận Công bố hợp chuẩn, hợp quy 73 cơ sở, doanh nghiệp với 358 sản phẩm các loại. Tư vấn hướng dẫn, hỗ trợ 85 doanh nghiệp đăng ký Mã số, mã vạch, với hơn 1.700 sản phẩm được cấp mã số, mã vạch và xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho 267 doanh nghiệp, với hơn 455 tiêu chuẩn cơ sở được áp dụng. Quản lý nhà nước về  TCĐLCL đã góp phần nâng cao nhận thức cá nhân, tổ chức trong việc chấp hành những quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường chất lượng; bảo đảm công bằng trong trao đổi, mua bán, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

       Sở cũng được UBND tỉnh giao làm đầu mối quản lý, hướng dẫn xây dựng, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015, ISO điện tử trong cơ quan hành chính nhà nước, đến nay có tổng số 137 cơ quan hành chính nhà nước đang áp dụng và công bố trong giải quyết thủ tục hành chính (36 đơn vị cấp tỉnh và 101 đơn vị cấp xã, phường, thị trấn). Sở cũng đã làm tốt công tác tham mưu cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các nghị quyết, quyết định, chương trình, kế hoạch văn bản chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước về KH&CN ở địa phương. Tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức các cuộc Hội thảo quốc tế, Hội thảo cấp vùng, cấp Khu vực và cấp tỉnh. 

       Về nghiên cứu, ứng dụng KH&CN, ngành đã triển khai thực hiện được 15 đề tài, dự án TW. Một số đề tài, dự án tiêu biểu như: Đề tài nghiên cứu phát triển công nghệ xử lý nước tuần hoàn và bùn thải trong nuôi tôm siêu thâm canh trên địa bàn tỉnh Cà Mau và một số tỉnh vùng ĐBSCL; Đề tài nghiên cứu khai thác và phát triển nguồn gen cá Thòi lòi (Periophthalmodon schlosseri Pallas 1770) tại Cà Mau; Dự án xây dựng dây chuyền sản xuất chế phẩm sinh học EMOZEO phục vụ nuôi trồng thủy sản và xử lý môi trường; Dự án xây dựng mô hình sản xuất tổng hợp trên vùng đất phèn nặng tại xã Khánh An huyện U Minh; Dự án ứng dụng KH&CN xây dựng mô hình sản xuất và phát triển giống lúa mùa địa phương phục vụ cho vùng sản xuất lúa mùa và lúa - tôm trên địa bàn tỉnh Cà Mau; Dự án Ứng dụng KHCN xây dựng mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo tiêu chuẩn VietGap cho hệ canh tác lúa tôm tỉnh Cà Mau; Dự án Chuyển giao ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và xây dựng mô hình trồng chuối già Phillippine đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vùng U Minh Hạ tỉnh Cà Mau; Dự án xây dựng mô hình lúa - tôm càng xanh toàn đực theo tiêu chuẩn VietGap vùng Bắc Cà Mau tỉnh Cà Mau; Dự án xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ để khôi phục và phát triển nguồn lợi cá đồng vùng U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau…

       Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh phê duyệt danh mục 254 đề tài, dự án cấp tỉnh. Phần lớn các đề tài, dự án KH&CN được tập trung vào lĩnh vực phát triển ngư - nông - lâm nghiệp, phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, đây là thế mạnh của tỉnh, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển của tỉnh Cà Mau. Vì vậy, số lượng các đề tài, dự án KH&CN ở lĩnh vực này chiếm tỷ lệ cao hơn so với các lĩnh vực khác. Các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn cũng được triển khai thực hiện theo đề xuất của các Sở ngành.

Một số sản phẩm nghiên cứu phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp tỉnh Cà Mau

       Kết quả các đề tài, dự án nghiên cứu KH&CN đã góp phần tích cực trong việc cung cấp các luận cứ khoa học  cho quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất ngư - nông - lâm nghiệp. Các quy trình kỹ thuật, công nghệ sản xuất giống trong nông nghiệp và thủy sản được nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm. Từ sự lệ thuộc hầu như hoàn toàn vào ngoài tỉnh, thiếu nguồn giống chất lượng phục vụ sản xuất. Đến nay qua 27 năm triển khai thực hiện các đề tài, dự án đã làm chủ được nhiều công nghệ, quy trình sản xuất giống thủy sản, giống nông nghiệp, lâm nghiệp. Một số kết quả nghiên cứu nổi bật như: quy trình kỹ thuật sản xuất cua giống, giống tôm sú, Ba khía, cá thòi lòi, sò huyết, cá bống tượng…; nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong tuyển chọn, lai tạo phục tráng và sản xuất các giống lúa địa phương như: một bụi lùn, tép hành, tài nguyên đục; Giống Camau1, Camau 2, Camau3… đến nay giống Camau 1 được công nhận lưu hành giống và bảo hộ quyền sở hữu giống cây trồng. Ngoài ra đã nghiên cứu ứng dụng công nghệ tế bào thực vật, sản xuất giống sạch bệnh bằng công nghệ invitro, đến nay làm chủ và hoàn thiện trên cây keo lai, cây tràm, chuối già Nam Mỹ, chuối xiêm... Trung tâm Thông tin và Ứng dụng khoa học công nghệ tỉnh Cà Mau đang xúc tiến triển khai nhân rộng và phát triển mạnh mẽ cây giống cấy mô tế bào thực vật, cung cấp gần 1 triệu cây/năm cho bà con nông dân trong và ngoài tỉnh, giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.

       Về sản xuất nông nghiệp theo báo cáo của ngành nông nghiệp, nông dân trong toàn tỉnh hiện nay sử dụng trên 80% giống xác nhận trên diện tích sản xuất; ứng dụng giống năng suất chất lượng cao vào sản xuất…, đã góp phần tăng năng suất, hiệu quả và giá trị lúa toàn tỉnh trên 15% so với trước; chất lượng các sản phẩm hướng đến cung cấp trong tỉnh và xuất khẩu. Trong đó, có sự đóng góp đáng kể từ kết quả nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học phân tử trong tuyển chọn, lai tạo và phục tráng một số giống lúa. 

       Các kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục đã triển khai thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn như: Đề tài Phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Cà Mau đáp ứng với yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới; Đề tài Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục của các trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Cà Mau trong bối cảnh đổi mới giáo dục đã phân tích, đề xuất một số giải pháp để áp dụng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của các trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Cà Mau trong bối cảnh đổi mới giáo dục; Đề tài Sàng lọc, chẩn đoán và can thiệp sớm cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ tại tỉnh Cà Mau…

       Triển khai thực hiện tốt Quyết định số 100/QĐ-TTg ngày 19/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc. Tính đến hết năm 2023, đã triển khai truy xuất nguồn gốc cho 76 sản phẩm (trong đó có 63 sản phẩm OCOP) của 57 cơ sở sản xuất, kinh doanh. Hướng dẫn,  hỗ trợ 22 doanh nghiệp tham gia Giải thưởng Chất lượng Quốc gia trong đó có 13 lượt doanh nghiệp đạt Giải vàng; 09 lượt doanh nghiệp đạt Giải Chất lượng Quốc gia.

       Ngoài các đề tài, dự án cấp tỉnh, các chương trình, kế hoạch hỗ trợ trên nhằm góp phần thúc đẩy việc phát triển và ứng dụng KH&CN  vào sản xuất, từ năm 2010 đến nay, Sở KH&CN đã hỗ trợ cho các hợp tác xã, tổ hợp tác cũng như các địa phương trong tỉnh nhiều dự án ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất từ các Chương trình như: (1) Chương trình Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa của tỉnh. Đã hỗ trợ xây dựng nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản với các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm; Hỗ trợ xây dựng mô hình ứng dụng các giải pháp nhằm tăng năng suất, chất lượng khai thác các loài thủy sản xa bờ; Hỗ trợ ứng dụng quy trình sản xuất giống nông - lâm - thủy sản tiên tiến cho doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản xuất giống. Đến nay, hỗ trợ 124 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, công cụ cải tiến và thực hiện các mô hình sản xuất, cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm. (2) Chương trình Ứng dụng nhân rộng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, đời sống. Đến nay đã triển khai 21 dự án, tập trung hỗ trợ xây dựng mô hình, dự án chuyển giao và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ nhằm ứng dụng vào sản xuất và đời sống; Nhân rộng các mô hình sản xuất ngư, nông, lâm nghiệp có hiệu quả, ưu tiên các mô hình sản xuất tiên tiến, ứng dụng công nghệ cao như: Ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ tuần hoàn RAS vào nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaus vannemei) thương phẩm siêu thâm canh 03 giai đoạn tại Cà Mau; các mô hình quảng canh cải tiến ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm sú, sò huyết, nuôi cua, nuôi ghép (tôm sú, cá đối)….; đã hoàn thiện tài liệu kỹ thuật nuôi để phổ biến cho người dân đưa vào triển khai nhân rộng mang lại hiệu quả tích cực. (3) Chương trình Ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu ngành nông nghiệp và hỗ trợ phát triển các sản phẩm OCCOP. Hỗ trợ xây dựng nhiều mô hình ứng dụng và đổi mới công nghệ nhằm cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp; công nghệ bảo quản sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch đối với các sản phẩm chủ lực của tỉnh; Hỗ trợ các hợp tác xã xây dựng các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; Tiếp tục xây dựng các mô hình ứng dụng KH&CN vào sản xuất để phát triển các sản phẩm OCCOP, nhằm tạo công ăn việc làm góp phần xây dựng nông thôn mới.

       Đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT), Sở đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 18/2010/QĐ-UBND, ngày 15 tháng 9 năm 2010 về Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh Cà Mau; Nghị quyết số 04/2022/NQ-HĐND ngày 13/7/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau Quy định mức hỗ trợ đăng ký bảo hộ đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, công nhận giống cây trồng mới trên địa bàn tỉnh Cà Mau đến năm 2030. Triển khai dự án tuyên truyền, phổ biến về sở hữu trí tuệ trên Đài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau được 60 kỳ phát sóng. Kể từ năm 2010, tỉnh đã triển khai 03 dự án cấp quốc gia, 24 dự án cấp tỉnh, chủ yếu là hỗ trợ xác lập quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý thông qua thực hiện Chương trình Xây dựng bảo hộ và quản lý phát triển các sản phẩm đặc thù. Đến nay, đã có 12 sản phẩm được bảo hộ nhãn hiệu tập thể; 14 sản phẩm được bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận; 02 sản phẩm được cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý. Thông qua việc hỗ trợ bảo hộ, phát triển tài sản trí tuệ cho các sản phẩm chủ lực địa phương nêu trên, đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Mặt khác, việc tham gia sử dụng các nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý là tiêu chí để hỗ trợ tham gia sản phẩm OCOP. Ngoài ra, Sở KH&CN đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 719/QĐ-UBND ngày 18/4/2017 về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai Chương trình phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Cà Mau và Quyết định số 3055/QĐ-UBND ngày 31/12/2021 về việc phê duyệt Chương trình phát triển tài sản trí tuệ trên địa bàn tỉnh Cà Mau đến năm 2030.

Tôm sú và cua Cà Mau được Cục SHTT chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý

       Về cấp huyện đến nay, các huyện và thành phố Cà Mau đã triển khai mỗi năm triển khai từ 2-3 dự án ứng dụng tiến bộ KH&CN ở địa phương. Các dự án chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất thử nghiệm và nhân rộng các mô hình sản xuất trong nông nghiệp và thủy sản, như: xây dựng các mô hình nuôi thủy sản nước mặn, ngọt, lợ; mô hình chăn nuôi; sản xuất giống; trồng các loại cây, rau, màu an toàn; mô hình sản xuất tổng hợp để nhân rộng cho bà con nông dân... Năng lực về quản lý, thực hiện các dự án KH&CN ở các địa phương đã được tăng cường, đặc biệt là có sự liên kết các nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN từ cấp huyện đến cấp tỉnh và các viện, trường, cơ quan nghiên cứu. 

       Sở đã triển khai, thực thi nghiêm túc các văn bản pháp luật về an toàn và kiểm soát bức xạ,  quản  lý kiểm tra chặt chẽ các cơ sở X quang, thiết bị được kiểm tra, kiểm định định kỳ,  đạt tiêu chuẩn an toàn bức xạ hạt nhân, nhân viên bức xạ được đào tạo, tập huấn kỹ thuật, kiến thức an toàn bức xạ, các nguồn bức xạ lưu động của các Trung tâm ngoài tỉnh đưa đến Cà Mau để thực hiện công tác kiểm tra tại Khu công nghiệp Khí - Điện - Đạm đều được khai báo, quản lý chặt chẽ, chưa để xảy ra trường hợp nào rò rỉ nguồn phóng xạ, bức xạ gây mất an toàn. Công tác thanh tra, kiểm tra KH&CN luôn bám sát thực tiễn và yêu cầu quản lý đặt ra, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng kịp thời phát hiện, ngăn chặn xử lý kịp thời các vi phạm về lĩnh vực KH&CN. Đặc biệt trong hoạt động quản lý nhà nước về đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hóa như xăng dầu và các mặt hàng thiết yếu khác. 

       Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp trực thuộc như: Trung tâm Thông tin và Ứng dụng Khoa học Công nghệ; Trung tâm Phân tích, kiểm nghiệm; Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, hiện nay đã đi vào hoạt động ổn định, tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị đã có những đóng góp thiết thực vào sản xuất và đời sống của nhân dân trong tỉnh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đặc biệt từ năm 2019 đến nay, Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã vươn lên tự chủ hoàn toàn về kinh phí hoạt động thường xuyên, hai trung tâm còn lại tự chủ từ 30 đến 70% kinh phí thường  xuyên theo quy định.

       Nhìn lại chặng đường 27 năm xây dựng và phát triển ngành KH&CN Cà Mau đã đạt được những kết quả tích cực, ngành luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, sự giúp đỡ của các cơ quan, ban ngành trong tỉnh, sự đoàn kết, vượt qua khó khăn của tập thể công chức, viên chức, người lao động của toàn ngành, đến nay đội ngũ ngày càng trưởng thành. Ngành đã có bước phát triển vượt bậc về xây dựng tổ chức bộ máy, tăng cường cơ sở vật chất, tiềm lực khoa học công nghệ. Công tác quản lý nhà nước về KHCN và đổi mới sáng tạo từng bước đổi mới và đi vào nề nếp. Công tác nghiên cứu, ứng dụng KH&CN thực hiện theo kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm đạt được những kết quả rất tích cực trên các lĩnh vực góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 

       Không thỏa mãn với những kết quả đã đạt trong thời gian tới Ngành KH&CN quyết tâm phấn đấu thực hiện có hiệu quả cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4; phát động và hỗ trợ phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh; phấn đấu góp phần cải tiến nâng cao chỉ số đổi mới sáng tạo (chỉ số PII) của tỉnh đáp ứng với yêu cầu của xã hội; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng KHCN và đổi mới sáng tạo vào sản xuất và đời sống, chọn lựa các công nghệ tiên tiến để ứng dụng ở địa phương; nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các giải pháp để hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; phát triển các sản phẩm đặc sản, đặc thù của địa phương được bảo hộ để nâng cao giá trị, góp phần xây dựng quê hương Cà Mau ngày càng phát triển theo hướng hiện đại, bền vững./.

Phan Tấn Thanh - Giám đốc Sở KH&CN Cà Mau