Thang đo chất lượng giáo dục bậc cao đẳng, đại học dựa trên góc độ sinh viên

1. Đặt vấn đề

       Trên thế giới, thang đo chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học đã được một số tác giả nghiên cứu với nhiều quan điểm khác nhau. Kết quả nghiên cứu về các thành phần tạo nên chất lượng giáo dục đại học trên góc độ sinh viên có rất nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này (chẳng hạn Joseph và Joseph, 1997a; LeBlanc và Nguyen, 1997; Firdaus, 2006; Jain và cộng sự, 2013). Tuy nhiên, các nghiên cứu này đã không giải quyết triệt để về các thành phần tạo nên chất lượng giáo dục đại học (Jain và cộng sự, 2010).

       Tại Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường cao đẳng, đại học. Trong đó, có 10 tiêu chuẩn và 53 tiêu chí (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2004). Các tiêu chuẩn này đã được tiến hành đánh giá thử nghiệm cho 20 trường cao đẳng, đại học đầu tiên và thông qua một số hội thảo rút kinh nghiệm, đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp và được tiến hành chỉnh sửa để chuẩn bị ban hành chính thức các tiêu chuẩn đo lường chất lượng giáo dục (Nguyễn Kim Dung, 2007).

       Bài viết này thực hiện nhằm nỗ lực hướng đến thang đo lường chất lượng giáo dục hoàn chỉnh cho cao đẳng, đại học đặc trưng trên góc độ sinh viên. Ngoài ra, việc nghiên cứu thang đo chất lượng giáo dục đại học trên góc độ sinh viên giúp cho địa phương, nhà quản lý giáo dục bậc cao đẳng, đại học có cái nhìn đúng đắn về thang đo tạo nên chất lượng giáo dục dựa trên góc độ sinh viên và giúp họ đề ra cách thức quản lý hợp lý, xát với thực tiễn mà các nghiên cứu đã chỉ ra để nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trên mong muốn của người học và nhu cầu thực tế mà xã hội cần.

       2. Nội dung

       2.1. Định nghĩa về chất lượng dịch vụ và chất lượng giáo dục

       Có 2 định nghĩa về chất lượng dịch vụ thường được các nhà nghiên cứu nhắc đến đó là định nghĩa của Parasuraman và cộng sự (1988); và Cronin và Taylor (1992). Parasuraman và cộng sự (1988) cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và cảm nhận của họ về kết quả của dịch vụ. Cronin và Taylor (1992) thì các tác giả lại cho rằng chất lượng dịch vụ chỉ là cảm nhận của khách hàng về kết quả của dịch vụ.

       Trong bài viết này, định nghĩa chất lượng giáo dục đại học của O’Neill và Palmer (2004) được sử dụng vì nó liên quan đến cảm nhận của sinh viên về chất lượng giáo dục. O’Neill và Palmer (2004) cho rằng chất lượng giáo dục đại học là sự khác biệt giữa những gì mà sinh viên mong muốn nhận được và nhận thức của họ về chuyển giao thực tế. 

       2.3. Kết quả về thang đo nghiên cứu

       2.3.1. Thang đo chương trình đào tạo

       Thang đo chương trình đào tạo gồm 3 biến quan sát.

Bảng 1. Thang đo chương trình đào tạo

Ký hiệu

Biến quan sát

Thang đo tương đồng/Mới

QS1

Kiến thức trang bị cho SV đáp ứng nhu cầu thực tế

Bổ sung

QS2

Nội dung môn học giúp SV phát triển các kỹ năng có thể áp dụng trong công việc thực tế

Gamage và cộng sự (2008)

QS3

Kiến thức và kỹ năng thu được trong các môn học giúp SV tìm được công việc phù hợp

Bổ sung

(Nguồn: Tác giả khám phá và so sánh với nghiên cứu trước)

       Như vậy, bảng 1 cho thấy đo lường chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học đầu tiên chúng ta cần phải xây dựng thang đo cho chương trình đào tạo, thang đo chương trình đào tạo gồm 3 biến quan sát. Trong đó, có 2 biến quan sát mới được bổ sung và 1 biến quan sát có thang đo tương đồng với thang đo của Gamage và cộng sự (2008).

       2.3.2. Thang đo kỹ năng giảng dạy của giảng viên

       Thang đo kỹ năng giảng dạy của giảng viên gồm 3 biến quan sát.

Bảng 2. Thang đo kỹ năng giảng dạy của giảng viên

Ký hiệu

Biến quan sát

Thang đo tương đồng/Mới

QS4

Giảng viên giảng dạy rất dễ hiểu

Ng.Thị Mai Trang và cộng sự (2008)

QS5

Giảng viên truyền đạt rõ ràng nội dung giảng dạy

Bổ sung

QS6

Giảng viên chuẩn bị bài giảng kỹ

Ng.Thị Mai Trang và cộng sự (2008)

(Nguồn: Tác giả khám phá và so sánh với nghiên cứu trước)

       Kết quả nghiên cứu qua bảng 2 cho thấy đo lường chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học cần phải xây dựng thang đo kỹ năng giảng dạy của giảng viên gồm 3 biến quan sát. Trong đó, có 1 biến quan sát mới được bổ sung và 2 biến quan sát có thang đo tương đồng với thang đo của Nguyễn Thị Mai Trang và cộng sự (2008).

       2.2.3.Thang đo tương tác giữa giảng viên và sinh viên

       Thang đo lường chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học, qua bảng 3 cho thấy thang đo tương tác giữa giảng viên và sinh viên gồm 3 biến quan sát. Các biến quan sát của thang đo này tương đồng với thang đo của Nguyễn Thị Mai Trang và cộng sự (2008).

Bảng 3. Thang đo tương tác giữa giảng viên và sinh viên

Ký hiệu

Biến quan sát

Thang đo tương đồng/Mới

QS7

GV khuyến khích SV thảo luận trong lớp

 Ng.Thị Mai Trang và cộng sự 2008)

QS8

GV tạo cơ hội cho SV đặt câu hỏi trong lớp

 Ng.Thị Mai Trang và cộng sự (2008)

QS9

GV khuyến khích SV phát biểu trong giờ học

 Ng.Thị Mai Trang và cộng sự (2008)

(Nguồn: Tác giả khám phá và so sánh với nghiên cứu trước)

       2.3.4.Thang đo cơ sở vật chất

       Thang đo cơ sở vật chất gồm 4 biến quan sát.

Bảng 4. Thang đo cơ sở vật chất

Ký hiệu

Biến quan sát

Thang đo tương đồng/Mới

QS10

Phòng học sạch sẽ, rộng rãi và thông thoáng

Gamage và cộng sự 2008)

 

QS11

Phương tiện giảng dạy (máy chiếu, micro…) có thể áp dụng việc dạy học hiện đại

Chen và cộng sự (2007)

 

QS12

Thư viện cung cấp đầy đủ tài liệu học tập và nghiên cứu cho sinh viên

Gamage và cộng sự (2008)

 

QS13

Cơ sở dữ liệu điện tử (tài liệu học tập, dữ liệu nghiên cứu…) phục vụ tốt cho việc học tập và nghiên cứu.

Bổ sung

(Nguồn: Tác giả khám phá và so sánh với nghiên cứu trước)

       Với bảng 4 cho thấy thang đo cơ sở vật chất gồm 4 biến quan sát. Trong đó, có 1 biến quan sát mới bổ sung, 2 biến quan sát của thang đo này tương đồng với thang đo của Gamage và cộng sự (2008), và 1 biến quan sát của thang đo này tương đồng với thang đo của Chen và cộng sự (2007).

       2.4.5. Thang đo hoạt động ngoại khóa

       Thang đo hoạt động ngoại khóa gồm 3 biến quan sát.

       Như vậy, qua bảng 5 cho thấy thang đo hoạt động ngoại khóa gồm 3 biến quan sát. Trong đó, 1 biến quan sát của thang đo này tương đồng với thang đo của Jain và cộng sự (2013), 1 biến quan sát của thang đo này tương đồng với thang đo của Chen và cộng sự (2007), và 1 biến quan sát của thang đo này tương đồng với thang đo của Gamage và cộng sự (2008).

Bảng 5. Thang đo hoạt động ngoại khóa

Ký hiệu

Biến quan sát

Thang đo tương đồng/Mới

QS14

Nhà trường mời diễn giả từ doanh nghiệp trao đổi, chia sẻ tình hình thực tế tại doanh nghiệp

Jain và cộng sự (2013)

QS15

Nhà trường có hoạt động ngoại khóa (bao gồm các câu lạc bộ và các sự kiện xã hội) hữu ích cho sinh viên

Chen và cộng sự (2007)

QS16

Sinh viên có được những kỹ năng sống hữu ích từ hoạt động ngoại khóa

Gamage và cộng sự (2008)

(Nguồn: Tác giả khám phá và so sánh với nghiên cứu trước)

       2.4.6. Thang đo chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên

       Thang đo chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên gồm 3 biến quan sát.

Bảng 6. Thang đo chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên

Ký hiệu

Biến quan sát

Thang đo tương đồng/Mới

QS17

Nhân viên khoa/phòng/ban làm việc khoa học

 Bổ sung

QS18

Nhân viên khoa/phòng/ban làm việc tận tâm với sinh viên

 Bổ sung

QS19

Nhân  viên  khoa/phòng/ban  thân  thiện  với  sinh viên

Bổ sung

(Nguồn: Tác giả khám phá và so sánh với nghiên cứu trước)

       Nghiên cứu cho thấy, qua bảng 6 cho thang đo chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên gồm 3 biến quan sát. Các biến quan sát của thang đo này được khám phá thông qua nghiên cứu định tính bằng phương pháp thảo luận nhóm.

       3. Kết luận và kiến nghị

       3.1. Kết luận

       Nghiên cứu này tổng hợp một cách hệ thống lý thuyết chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học từ những nghiên cứu trước trên thế giới và tại Việt Nam, để xây dựng một thang đo chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học hoàn chỉnh nhất. Trong tổng hợp lý thuyết chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học đã xác định được yếu tố chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên là yếu tố thuộc về cơ sở lý thuyết. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến yếu tố chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên. Do đó, việc tổng hợp này có ý nghĩa giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận đầy đủ hơn khi nghiên cứu về lý thuyết chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học.

       Trong 6 thành phần tạo nên chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học ở trên, thì thành phần chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên là thành phần mới. Thành phần này được nhóm tác giả khám phá thông qua nghiên cứu định tính bằng phương pháp thảo luận nhóm và được kiểm định lại thông qua phân tích nhân tố khẳng định CFA đạt yêu cầu.

       3.2. Kiến nghị

       Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học dựa trên góc độ sinh viên:

       - Chương trình đào tạo: Rà soát cập nhật chương trình đào tạo, thiết kế phù hợp với nhu cầu của người học; thường xuyên cải tiến chương trình đào tạo; hiểu và tôn trọng vai trò của giảng viên liên quan đến phát triển chương trình đào tạo; phát triển kiến thức và năng lực cho người học chặt chẽ với mục tiêu chương trình đào tạo; chọn nhà lãnh đạo có chuyên môn và tầm nhìn sâu rộng để phát triển chương trình.

       - Kỹ năng giảng dạy của giảng viên: Giảng viên cần cải thiện kỹ năng giảng dạy để làm tốt điều đó lãnh đạo cần quan tâm; Làm cho môi trường học tập đáp ứng nhiều hơn đối với việc giảng dạy; Mỗi giảng viên cần được khuyến khích để xem xét mục tiêu cá nhân  giảng viên trong lớp học.

       - Tương tác giữa giảng viên và sinh viên: Phải cho sinh viên thấy được lợi ích cá nhân của họ và lợi ích của việc học tập của họ khi tương tác với giảng viên; tìm cách để giúp sinh viên trả lời các câu hỏi của họ

       - Cơ sở vật chất: Các nhà quản lý giáo dục nên tập trung cải tiến một số  vần đề như: phòng học, phương tiện giảng dạy (máy chiếu, micro …), tài liệu học tập và nghiên cứu cho sinh viên tại thư viện, mạng internet, và cơ sở dữ liệu điện tử phục vụ cho sinh viên nghiên cứu và học tập; mở rộng truy cập mạng internet là một giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

       - Hoạt động ngoại khóa: Hoạt động ngoại khóa giúp sinh viên có được kinh nghiệm có giá trị trong một số lĩnh vực có thể cải thiện tương lai của họ. Bằng cách tình nguyện và giúp đỡ cộng đồng, sinh viên học cách làm thế nào để có trách nhiệm, để giải quyết vấn đề có hiệu quả, và đồng thời phát triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.

       - Chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên: Các nhà quản lý giáo dục nên rà soát, xây dựng quy trình làm việc khoa học cho nhân viên nhằm phục vụ sinh viên một cách tốt nhất; tuyển chọn nhân viên dựa vào năng lực làm việc; các nhà quản lý giáo dục nên có kế hoạch thường xuyên đào tạo và phát triển nhân viên như là cách để trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để phục vụ sinh viên một cách tốt nhất về quy trình làm việc..

Phạm Văn Tráng, Phạm Thị Huyền - Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau