Thực trạng và giải pháp phát triển nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghề truyền thống là những nghề đã được hình thành lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo và có tính riêng biệt. Những ngành nghề này, đặc biệt là các nghề truyền thống, có vai trò rất quan trọng, đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng và kinh tế xã hội của tỉnh Cà Mau như mang lại thu nhập, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống người dân, tạo an sinh xã hội và giảm tệ nạn. Ngoài ra, việc phát triển ngành nghề truyền thống còn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh Cà Mau nhằm khôi phục và tô đậm thêm bản sắc văn hóa địa phương. Từ đó, góp phần giúp cho Cà Mau trở thành địa điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Hiện tại, Cà Mau có 11 ngành nghề truyền thống và được phân bố không đồng đều ở các xã, huyện trong tỉnh. Theo Sở Công Thương Cà Mau (2017), nghề dệt chiếu cói; Nghề Hầm than đước; Nghề vót đũa; Nghề chế biến tôm khô; Nghề chế biến ba khía muối; Nghề chế biến cá khô khoai; Nghề chế biến mắm cá đồng; Nghề nấu rượu; Nghề ép chuối khô; Nghề chế biến mắm ruốc; và nghề Đan đát. Tuy nhiên, quy mô sản xuất ngành nghề này còn nhỏ, chưa được quy hoạch theo từng vùng cụ thể. Điều này gây khó khăn trong công tác quản lý, hỗ trợ và phát triển sản phẩm truyền thống.

Trong thời kỳ công nghiệp hóa và đô thị hóa như hiện nay, bên cạnh những thuận lợi và cơ hội thì các ngành nghề truyền thống của tỉnh Cà Mau phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn. Các sản phẩm hàng hóa của ngành nghề này đang chịu áp lực cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong cơ chế thị trường cũng như hội nhập kinh tế thế giới. Để duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống thì nghiên cứu về “Thực trạng và giải pháp phát triển nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Cà Mau” là rất cần thiết nhằm giúp cho lãnh đạo địa phương có cái nhìn tổng quan về thực trạng của các ngành nghề này và qua đó tham khảo những giải pháp để có thể đề ra những chính sách và phương án phù hợp để phát triển, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới. Có như vậy thì nghề truyền thống mới có thể phát triển một cách thịnh vượng.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện. Nhóm nghiên cứu tiến hành chọn 11 mô hình truyền thống gồm nghề chế biến mắm cá đồng, ép chuối khô, nấu rượu, mắm ruốc, tôm khô, chế biến ba khía muối, khô cá khoai, dệt chiếu, sản xuất đũa được, hầm than và nghề đan đát. Sau đó, tiến hành phỏng vấn 35 hộ /mô hình.

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả với các chỉ số như trung bình (Mean); phương sai (Variance), độ lệch chuẩn (Standard Deivation),….để phân tích thực trạng và sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT để đề xuất giải pháp phát triển các ngành nghề này.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Hình 1: Tình trạng kinh tế gia đình

Về tình trạng kinh tế gia đình: Hình 1 thể hiện số hộ nghèo và số hộ thoát nghèo theo các ngành nghề truyền thống. Theo số liệu điều tra 11 mô hình với mỗi mô hình là phỏng vấn thì có 07 mô hình gồm nghề mắm cá đồng, mắm ruốc, tôm khô, đũa đước, ba khía muối, hầm than đước và nghề đan đát là không còn hộ nghèo. Những nghề còn lại có rất ít hộ thuộc đối tượng hộ nghèo. Cụ thể là nghề khô cá khoai còn 3 hộ nghèo, nghề ép chuối khô còn 2 hộ nghèo, nghề nấu rượu và nghề dệt chiếu, mỗi nghề còn 1 hộ nghèo. Nhìn chung, tỷ lệ hộ nghèo còn rất thấp, chỉ có tổng số 7/385 hộ là thuộc hộ nghèo (chiếm 1,8%), còn lại 378/385 hộ không nghèo (chiếm 98,2%). Điều này cho thấy rằng tình trạng kinh tế hộ gia đình đã cải thiện rõ rệt. Có thể do hộ gia đình có việc làm và có thu nhập từ hoạt động sản xuất phi nông truyền thống.

Về sản phẩm OCOP: Qua khảo sát 35 hộ/mô hình cho thấy tỷ lệ hộ có sản phẩm OCOP là rất thấp (Bảng 1) với tổng số 73/385 hộ (chiếm 19%). Trong đó, nghề đan đát có tỷ lệ hộ có sản phẩm OCOP cao nhất với 35/35 hộ. Kế đến là nghề sản xuất đũa đước có 19/35 hộ và nghề dệt chiếu với 12/35 hộ có sản phẩm OCOP. Riêng nghề sản xuất mắm cá đồng, ép chuối khô, nấu rượu và hầm than thì chưa hộ nào có sản phẩm OCOP. Còn các nghề còn lại có rất ít hộ có sản phẩm OCOP như nghề mắm ruốc (1/35 hộ), khô cá khoai (1/35 hộ), tôm khô (2/35 hộ), chế biến ba khía muối (3/35 hộ).

STT

Nghề truyền thống

Sản phẩm OCOP

Chuỗi liên kết sản xuất

Lợi nhuận/tháng

Không

Không

Số hộ

Số hộ

Số hộ

Số hộ

Triệu đồng

1

Mắm cá đồng

35

0

35

0

4,02cd  ±4,94

2

Ép chuối khô

35

0

35

0

2,11ab  ±1,99

3

Nấu rượu

35

0

35

0

2,49abc  ±1,28

4

Mắm ruốc

34

01

32

03

1,55a  ±0,78

5

Dệt chiếu

23

12

32

03

5,36d  ±2,13

6

Tôm khô

33

2

07

28

13,91f  ±3,68

7

Sản xuất Đũa đước

16

19

22

13

2,22ab  ±2,96

8

Chế biến Ba khía muối

32

3

28

07

5,0d  ±1,57

9

Khô cá khoai

34

01

01

34

4,7d  ±0,64

10

Hầm than đước

35

0

34

01

3,68bcd  ±7,28

11

Đan đát

0

35

10

25

9,73e ± 1,66

Tổng

312

(81%)

73

(19%)

261

(70,4%)

89

(29,6%)

4,5  ±4,74

Bảng 1: Thực trạng về mô hình nghề truyền thống

Ghi chú: Chữ cái khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%

Về việc tham gia chuỗi liên kết: Tỷ lệ hộ tham gia chuỗi liên kết chưa nhiều, có khoảng hơn ¼ hộ tham gia (chiếm 29,6%) (Bảng 1). Trong đó, mô hình chế biến khô cá khoai có số hộ tham gia theo chuỗi liên kết nhiều nhất với 34/35 hộ, kế đến là mô hình sản xuất tôm khô (28/35 hộ), đan đát (25/35 hộ) và sản xuất đũa đước (13/35 hộ). Riêng mô hình làm mắm cá đồng, ép chuối khô và nấu rượu thì hầu như không có hộ nào tham gia chuỗi liên kết sản xuất. Những mô hình còn lại thì có ít hộ tham gia như nghề hầm than được có 1/35 hộ, nghề làm mắm ruốc và dệt chiếu cùng có 3/35 hộ và nghề chế biến ba khía muối có 7/35 hộ.

Về lợi nhuận: Lợi nhuận thu được từ các mô hình nghề truyền thống khác nhau có khác biệt ý nghĩa thống kê 5% (Bảng 1). Nghề chế biến tôm khô thu được lợi nhuận cao nhất với trung bình 13,91 triệu/tháng do vào dịp cận tết, nhu cầu tôm khô phục vụ cho khách biếu tặng cao nên kéo tăng lợi nhuận bình quân tháng của hộ. Kế đến là nghề đan đát với lợi nhuận bình quân tháng là 9,73 triệu/tháng. Mặc dù đây là nghề thủ công nhưng lợi nhuận bình quân thu được mỗi hộ cũng khá cao. Thật vậy, đây là nghề có tỷ lệ hộ tham gia OCOP cao (35/35 hộ) và có tỷ lệ hộ tham chuỗi liên kết cũng khá cao (25/35 hộ). Đây là một lợi thế giúp sản phẩm dễ dàng tiếp cận với thị trường hơn. Hơn nữa, đa số những hộ làm nghề đan đát tham gia vào hợp tác xã nên rất thuận lợi liên kết với các hộ để tạo ra lượng lớn sản phẩm và bán với số lượng lớn. Nghề có lợi nhuận thấp nhất là nghề mắm ruốc với trung bình 1,55 triệu/tháng. Điều này có thể do hộ làm nghề mắm ruốc có rất ít hộ đăng ký sản phẩm OCOP (1/35 hộ) và rất ít hộ tham gia chuỗi liên kết (3/35 hộ) nên khó tìm đầu ra. Ngoài ra, thị trường tiêu thụ mắm ruốc còn hạn chế vì không phải ai cũng có thể ăn được mắm ruốc. Do đó, nhu cầu cho loại sản phẩm này chưa nhiều. Đặc biệt là việc xuất khẩu loại sản phẩm này sẽ là trở ngại lớn vì mùi mắm ruốc không phải là món khoái khẩu đối với người nước ngoài. Do đó, thị trường bị giới hạn ở khu vực nội địa và khó tiếp cận với thị trường quốc tế. Những nghề có lợi nhuận trong khoảng 4 đến 5 triệu/tháng gồm nghề mắm cá đồng, dệt chiếu, ba khía muối, khô cá khoai. Những nghề có lợi nhuận trong khoảng từ 2 đến 3 triệu/tháng gồm nghề ép chuối khô, nấu rượu, sản xuất đũa đước, hầm than đước. Nhìn chung, ngoại trừ nghề chế biến tôm khô và nghề đan đát có lợi nhuận khá cao và nghề mắm cá đồng, dệt chiếu, ba khía muối, khô cá khoai có lợi nhuận trung bình (4 - 5 triệu/tháng) thì những nghề còn lại có lợi nhuận rất thấp so với mức sống hiện tại. Hầu như những ngành nghề này có số hộ tham gia chuỗi liên kết thấp và có rất ít hộ có sản phẩm OCOP. Trong số đó, mặc dù nghề sản xuất đũa được có khá nhiều hộ có sản phẩm OCOP (19/35 hộ) và nhiều hộ tham gia chuỗi liên kết (13/35 hộ) nhưng lợi nhuận chỉ đạt trung bình 2,22 triệu/tháng. Điều này có thể là do chương trình OCOP mới được phổ biến trong những năm gần đây nên chủ hộ cần đầu tư chi phí ban đầu cho việc tạo nhãn mác, thương hiệu, quảng bá sản phẩm trong khi đầu ra chưa nhiều. Có thể thời gian đầu, loại mặt hàng này chưa được biết nhiều nên đầu ra chưa cao. Tuy nhiên, đây là mặt hàng không thể thiếu đối với mỗi gia đình. Bên cạnh phục vụ cho nhu cầu ăn uống thì việc chọn những đôi đũa đẹp với kiểu dáng và mẫu mã khác nhau cũng sẽ là điểm mạnh. Do đó, ngành hàng này được đánh giá là rất có tiềm năng tiêu thụ trong nước và quốc tế. Vì thế, nếu đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, chú trọng thay đổi kiểu dáng, màu sắc và mẫu mã thì chắc chắn trong tương lai không xa, ngành nghề này sẽ có một chỗ đứng xứng với tiềm năng của nó.  

Hình 2: Biểu đồ thể hiện mức độ việc làm thường xuyên

Về mức độ làm việc thường xuyên: Ngành nghề truyền thống tạo việc làm thường xuyên cho người lao động, chiếm 67%. Còn 33% hộ đánh giá là không có việc làm thường xuyên (Hình 2). Điều này có thể do một số ngành nghề còn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu đầu vào và đầu ra sản phẩm. Do đó, việc sản xuất cũng phải theo mùa vụ hoặc theo yêu cầu của thị trường, kéo theo người lao động cũng phải làm việc theo thời vụ. Kết quả này chứng tỏ rằng vẫn chưa khai thác hết nguồn lao động, vẫn còn nhiều hộ có thời gian nhàn rỗi khi chưa tới thời vụ sản xuất.

Hình 3: Biểu đồ thể hiện khả năng giải quyết lao động tại hộ gia đình

Về khả năng giải quyết lao động gia đình và địa phương: Ngành nghề truyền thống có khả năng giải quyết khoảng ¾ lao động từ gia đình (Hình 3) và khoảng hơn ½ lao động từ địa phương (Hình 4). Điều này phù hợp với thực tế là hộ gia đình chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình, ít thuê nhân công bên ngoài. Do đó, những ngành nghề này có khả năng giải quyết việc làm cho hộ

Hình 4: Biểu đồ thể hiện khả năng giải quyết lao động tại địa phương

gia đình cao hơn lao động trong khu vực. Hơn nữa, quy mô sản xuất nhỏ nên cần ít lao động. Khả năng giải quyết việc làm cao chỉ khi chủ hộ mở rộng quy mô sản xuất. Để làm được đều này thì đòi hỏi chủ hộ cần phải có đầu ra sản phẩm để xoay nguồn vốn phục vụ cho đầu tư, mở rộng sản xuất.

 

 

Hình 5: Biểu đồ thể hiện nguyện vọng của hộ gia đình sản xuất nghề truyền thống

Về nguyện vọng của hộ gia đình sản xuất nghề truyền thống: Để phát triển ngành nghề truyền thống, một trong những giải phải pháp là tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng của người dân để hỗ trợ kịp thời. Đây cũng là một điểm then chốt để vực dậy phát triển ngành nghề truyền thống tỉnh Cà Mau. Theo kết quả khảo sát về nguyện vọng cho thấy đa số hộ có nguyện vọng là có thị trường ổn định chiếm tỷ lệ 27,7%, kế đến là nhu cầu hỗ trợ vay vốn đầu tư sản xuất (21,6%) và được hỗ trợ vật chất kỹ thuật sản xuất (19,6%). Khoảng 24% còn lại là có nhu cầu được đào tạo kỹ năng nghề, tham gia các lớp tập huấn. Những nguyện vọng khác chiếm tỷ lệ nhỏ (7,3%) (Hình 5). Những nguyện vọng này phù hợp với yêu cầu thực tế sản xuất. Do đó, cần có sự quan tâm hơn nữa từ các cơ quan đơn vị trong hỗ trợ về thị trường, cơ sở vật chất, kỹ thuật, đào tạo kỹ năng nghề, tập huấn, vay vốn đầu tư sản xuất.

Đánh giá về tính bền vững của ngành nghề truyền thống: Các ngành nghề được đánh giá bền vững về thu nhập chiếm tỷ lệ cao nhất (32%). Bền vững về thị trường, năng suất và chất lượng chiếm tỷ lệ gần bằng nhau (20 - 22%). Thấp nhất là bền vững về môi trường (4%) (Hình 7). Qua kết quả cho thấy rằng việc sản xuất ngành nghề truyền thống có tiềm năng phát triển ổn định, có năng suất, chất lượng và thị trường, tạo thu nhập ổn định cho người dân. Song bên cạnh đó cần quan tâm đến vấn đề về môi trường. Theo thông tin của Sở Công thương Cà Mau (2017), một số cơ sở sản xuất chưa xây dựng các công trình xử lý chất thải trong quá trình sản xuất nhằm hạn chế tác động đến môi trường. Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm của các ngành nghề nay chưa đến mức báo động.

Hình 7: Biểu đồ thể hiện quan điểm bền vững của ngành nghề truyền thống

3.2. Phân tích SWOT cho mô hình nghề truyền thống

3.2.1. Điểm mạnh của sản xuất nghề truyền thống

Lực lượng lao động dồi dào: Nguồn lực để phục vụ cho sản xuất nghề truyền thống phần đông là lao động nhàn rỗi ở các vùng nông thôn. Đa số hộ tận dụng thời gian nhàn rỗi để làm thuê cho các cơ sở hoặc tự sản xuất các nghề để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Bên cạnh những hộ có việc làm thường xuyên, còn có đến 33% hộ có việc làm không thường xuyên, chủ yếu lao động theo thời vụ hoặc theo nhu cầu thị trường. Do đó, đôi lúc họ có việc làm, đôi lúc không có việc. Nguồn lao động nhàn rỗi chưa sử dụng hết. Chủ hộ sản xuất nghề truyền thống đa phần nằm trong độ tuổi lao động, có sức khỏe và có nhiều kinh nghiệm nên thuận lợi cho sản xuất.

Điều kiện tự nhiên thuận lợi với nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất nghề phong phú: Đối với nghề chế biến tôm khô, khô cá khoai, mắm cá đồng, mắm ruốc và chế biến ba khía muối có nguồn nguyên liệu tôm, cá, ruốc, ba khía tại địa phương rất dồi dào vì Cà Mau là vùng có diện tích đất canh tác thủy sản lớn nhất cả nước. Hơn nữa, nguyên liệu gạo, cây tre, cây trúc và chuối cũng đáp ứng cho nghề nấu rượu, đan đát và ép chuối khô. Vùng đất mặn Cà Mau có diện tích rừng đước rất lớn đáp ứng nguồn cung cho nghề sản xuất đũa được và hầm than đước. Hầu hết nguyên liệu được tận dụng từ nguồn sẵn có ở địa phương như tôm, cá, chuối, gạo, ba khía, ruốc, cá khoai, cói, tre, trúc,….để tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn.  

Nhiều sản phẩm nghề truyền thống trở thành đặc sản nổi tiếng Cà Mau như chiếu Cà Mau, tôm khô Cà Mau, Ba Khía Muối Cà Mau,…. Điều này thuận lợi cho việc quảng bá, tạo thương hiệu cho sản phẩm và thu hút khách hàng khi đặt chân đến miền sông nước Cà Mau.  

Cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm: Tỉnh Cà Mau đang đặc biệt quan tâm phát triển các ngành nghề truyền thống, vừa giúp giải quyết việc làm cho lao động địa phương, mang lại thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân, đồng thời tạo nên giá trị văn hóa. Cụ thể là khuyến khích người dân đăng ký sản phẩm OCOP và tham gia chuỗi liên kết sản xuất bằng cách đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ cho các sản phẩm đạt chứng nhận OCOP như hỗ trợ bao bì, nhãn mác sản phẩm, hỗ trợ liên kết sản xuất, hỗ trợ đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử như Lazada, Madeincamau.com,….Ngoài ra, Tỉnh đặc biệt quan tâm hỗ trợ cho người dân vay vốn với các chính sách ưu đãi từ Ngân hàng chính sách xã hội, Hội phụ nữ, Chính quyền địa phương, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân sản xuất và mở rộng quy mô.

Những thuận lợi khác từ sản xuất mô hình nghề truyền thống:

Theo số liệu khảo sát từ những hộ làm nghề truyền thống thì có những ý kiến khác nhau trong việc đưa ra những thuận lợi mà hộ nhận được từ việc sản xuất mô hình này (Hình 8). Cụ thể là có 32% hộ cho rằng mô hình đem lại thu nhập cho người dân, 16% hộ cho rằng sản phẩm từ những mô hình này dễ bán, 15% hộ cho rằng công việc này không ràng buộc thời gian và dễ làm, không đòi hỏi tay nghề. Chỉ có 8% hộ cho rằng thuận lợi là đi làm gần, thuận tiện, 7% cho rằng mô hình này tạo công việc ổn định và 6% cho rằng người làm công việc này có nhiều kinh nghiệm và 1% là được hỗ trợ vốn của nhà nước. Qua đó có thể thấy rằng có nhiều thuận lợi trong sản xuất mô hình nghề truyền thống.

Hình 8: Biểu đồ phần trăm về đánh giá thuận lợi của mô hình nghề truyền thống

 

Điểm yếu của sản xuất nghề truyền thống

Bên cạnh những điểm mạnh tạo nên lợi thế cho sản xuất nghề truyền thống, còn có nhiều khó khăn, hạn chế chưa thực sự phát triển mạnh so với tiềm năng vốn có, đó là:

Quy mô sản xuất các ngành nghề truyền thống còn nhỏ, chưa huy hoạch cụ thể theo từng vùng. Điều này sẽ gây khó khăn trong công tác quản lý, hỗ trợ và phát triển sản phẩm. Nếu ngành nghề được quy hoạch theo từng vùng sẽ là lợi thế để đẩy mạnh phát triển sản phẩm theo chuỗi liên kết, tạo nên thế mạnh và nét đặc trưng riêng cho mỗi vùng. Từ đó, hình ảnh và giá trị sản phẩm của mỗi vùng được nâng cao. Đây sẽ là lợi thế không những quảng bá sản phẩm mà còn quảng bá hình ảnh đặc trưng của vùng quê Cà Mau.

Lực lượng lao động chủ yếu từ gia đình, ít thuê nhân công bên ngoài do quy mô sản xuất còn nhỏ. Hơn nữa, ngoài một số nghề có sử dụng máy móc thì còn nhiều nghề sản xuất thủ công là chính. Do đó, năng suất lao động không cao.

Nhiều hộ gia đình chưa có sản phẩm OCOP, chưa tham gia chuỗi liên kết sản xuất. Điều này gây trở ngại cho việc thương mại hóa sản phẩm và hướng tới đưa sản phẩm ra thị trường xa hơn, do đó ảnh hưởng đến đầu ra sản phẩm. Riêng sản phẩm đũa đước, mặc dù có tỷ lệ cao hộ tham gia chương trình OCOP và chuỗi liên kết sản xuất nhưng lợi nhuận thu được rất thấp. Do đó, đầu ra là vấn đề trọng tâm cần phải giải quyết để sản phẩm có chất lượng có nơi tiêu thụ ổn định.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế. Mẫu mã sản phẩm còn chưa được bắt mắt. Do đa số ngành nghề sản xuất theo hình thức thủ công nên năng suất lao động thấp, chi phí thuê nhân công cao, giá thành cao nên khó có thể cạnh tranh với các sản phẩm công nghiệp.

Trình độ học vấn chưa cao nên khả năng tiếp thu, học hỏi kỹ thuật sẽ bị hạn chế.

Những khó khăn khác từ mô hình nghề truyền thống (Hình 9). Ngoài những hạn chế trên, mô hình sản xuất nghề truyền thống còn gặp một số khó khăn khác như thiếu vốn (23%), tại địa phương chưa có đa dạng nghề, cơ sở sản xuất, khu công nghiệp (19%), thu nhập giảm, lương thấp (16%), việc làm không ổn định (14%), sợ bị rủi ro khi đổi nghề (13%), không có tay nghề chuyên môn (8%), tuổi không phù hợp (2%), công việc không phù hợp (1%) và những khó khăn khác (3%).

Hình 9: Biểu đồ phần trăm về đánh giá khó khăn của mô hình nghề truyền thống

3.2.3. Cơ hội của sản xuất nghề truyền thống

Mở rộng thị trường xuất khẩu các sản phẩm nghề truyền thống có giá trị. Hội nhập quốc tế là cơ hội để những sản phẩm có cơ hội tiếp cận với thị trường thế giới, tạo nhiều đầu ra và giá thành cao. Do đó, những sản phẩm có chất lượng như sản phẩm OCOP sẽ có cơ hội lớn để bán sang các nước. Do đó, những sản phẩm không chứng nhận đạt chất lượng sẽ là rào cản lớn trong việc tiếp cận thị trường.

Nhà nước đang đưa ra nhiều chính sách thu hút mở rộng quy mô sản xuất, phát triển mô hình nghề truyền thống như hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ người dân đăng ký chứng nhận OCOP, hình thành chuỗi liên kết sản xuất từ khâu cung cấp đến nơi tiêu thụ, hỗ trợ nhãn mác, bao bì, xây dựng thương hiệu,…. Đây là cơ hội để nhà sản xuất phát triển sản phẩm, tạo thương hiệu và mẫu mã.

Cơ hội tăng cường học tập, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Cơ hội tăng cường liên kết, hợp tác với các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Việc liên kết, hợp tác giữa các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã là cơ hội thúc đẩy việc thương mại sản phẩm, mở rộng thị trường, mở rộng quy mô sản xuất, trao đổi kinh nghiệm, tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm cải tiến công nghệ, cải thiện sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường.

3.2.4. Thách thức của sản xuất nghề truyền thống

Hội nhập quốc tế vừa là cơ hội vừa là thách thức lớn đối với các sản phẩm nghề truyền thống vì những sản phẩm này đang ngày càng cạnh tranh quyết liệt với sản phẩm công nghệ cao và hàng hóa nhập khẩu về giá cả, chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Những sản phẩm nhập khẩu có giá rẻ hơn và mẫu mã đẹp hơn. Đặc biệt là nghề dệt chiếu bằng cói phải cạnh tranh với chiếu tre và chiếu nilon. Nghề đan đát từ cây tre trúc bằng thủ công phải cạnh tranh với sản phẩm từ nhựa. Do sản phẩm nghề công nghệ cao sử dụng máy móc, thiết bị tạo ra nhiều sản phẩm hơn, năng suất lao động cao hơn, thuê nhân công ít, giá thành rẻ hơn. Trong khi những sản phẩm thủ công tạo ra ít sản phẩm hơn, năng suất lao động thấp hơn, thuê nhân công nhiều, giá thành cao hơn.

Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, năng lực tài chính và trình độ ứng dụng khoa học công nghệ còn thấp. Đây là thách thức lớn để các hộ gia đình cần phải tiếp cận công nghệ mới, học hỏi nghiên cứu, sáng tạo, mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới phương thức sản xuất nhằm gia tăng năng suất lao động mà vẫn đảm bảo chất lượng, mẫu mã đẹp có khả năng cạnh tranh cao.

Để phát triển bền vững mô hình nghề truyền thống, cần tập trung vào chiến lược sau:

Chiến lược SO (Strengths and Opportunities): Tận dụng điểm mạnh và cơ hội để đẩy mạnh phát triển ngành nghề truyền thống. Tăng cường hợp tác, liên kết doanh nghiệp, thúc đẩy quảng bá và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nghề truyền thống.

Chiến lược WT (Weaknesses and Threats): Khắc phục những điểm yếu và hạn chế thách thức như tăng cường đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và tay nghề, cải tiến công nghệ, cải thiện mẫu mã sản phẩm để tăng tính cạnh tranh sản phẩm.

3.3. Giải pháp thúc đẩy phát triển các mô hình nghề truyền thống

Phân tích SWOT cho mô hình nghề truyền thống nhằm xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức để đưa mô hình nghề truyền thống phát triển. Để đẩy mạnh phát triển các ngành nghề truyền thống và sản phẩm của chúng có đủ sức cạnh tranh và vươn ra thị trường thế giới, nhóm nghiên cứu có một số đề xuất sau:

Cần quy hoạch cụ thể các ngành nghề truyền thống theo từng vùng để thuận tiện cho công tác quản lý, hỗ trợ và phát triển sản phẩm theo chuỗi liên kết. Mỗi vùng có những sản phẩm đặc trưng sẽ là lợi thế quảng bá sản phẩm và hình ảnh vùng miền, qua đó góp phần thu hút du khách đến tham quan và chiêm ngưỡng.

Cần khuyến khích người dân tham gia chuỗi liên kết và đăng ký sản phẩm OCOP để thuận lợi xúc tiến thương mại và dễ tiếp cận thị trường trong thời kỳ hội nhập thế giới.

Mở rộng quy mô sản xuất hướng tới cải tiến phương thức sản xuất, hoàn thiện mẫu mã, sử dụng máy móc và thiết bị, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất để tăng năng suất và chất lượng hàng hóa để đủ sức cạnh tranh với hàng hóa khác.

Tăng cường đào tạo nguồn lao động phục vụ cho sản xuất nhằm nâng cao tay nghề, nâng cao hiệu quả lao động.

Cần phát huy hơn nữa vai trò là cầu nối để liên kết giữa cung và cầu, hợp tác với các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức để thu hút đầu tư, tạo đầu ra sản phẩm ổn định.

KẾT LUẬN

Phát triển mô hình nghề truyền thống là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế xã hội tỉnh Cà Mau. Đánh giá thực trạng về mô hình nghề truyền thống ở Cà Mau cho thấy Cà Mau có tiềm năng và lợi thế tạo nên thế mạnh trong sản xuất các sản phẩm nghề truyền thống. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan mà chưa khai thác hết tiềm năng và lợi thế cho phát triển. Vẫn còn một số hạn chế và khó khăn trong sản xuất các ngành nghề này. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa và quá trình hội nhập với thế giới, thị trường sản phẩm nghề có nhiều cơ hội để tiếp cận thị trường quốc tế, song cũng không ít thách thức cần phải vượt qua. Để tận dụng cơ hội, điểm mạnh và vượt qua khó khăn, thách thức thì cần phải thực hiện những giải pháp đồng bộ, kịp thời và hiệu quả. Đặc biệt là cần có sự quan tâm của các cấp, các ngành, nhà lãnh đạo địa phương trong việc kết nối nhà sản xuất với người tiêu dùng, các tổ chức đoàn thể để sản phẩm có đầu ra ổn định.