Mô hình cá đồng – bồn bồn – cây ăn trái tại xã Khánh An: Hướng phát triển sinh kế sinh thái từ kết quả dự án khoa học và công nghệ
Vùng U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau có điều kiện sinh thái đặc thù với hệ thống rừng tràm, ruộng ngập nước, mương vườn và nguồn thủy sản nước ngọt bản địa phong phú. Trong đó, các loài cá đồng như cá rô đồng, cá trê vàng, cá lóc, cá sặc bướm… từ lâu gắn bó với đời sống nông thôn, vừa là nguồn thực phẩm quen thuộc, vừa là sản phẩm có giá trị kinh tế. Tuy nhiên, những năm gần đây, nguồn lợi cá đồng tự nhiên có xu hướng suy giảm do biến động môi trường, thu hẹp sinh cảnh, khai thác quá mức và tác động của biến đổi khí hậu. Vì vậy, việc phục hồi, phát triển nguồn giống và xây dựng mô hình nuôi cá đồng phù hợp điều kiện địa phương có ý nghĩa thiết thực cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, Trung tâm Ứng dụng Khoa học và Công nghệ đã chủ trì thực hiện dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá đồng tại tỉnh Cà Mau”. Dự án tập trung vào 03 đối tượng cá đồng chủ lực gồm cá rô đồng, cá trê vàng và cá lóc; đồng thời tiếp nhận, làm chủ quy trình sản xuất giống, nuôi thương phẩm và chuyển giao kỹ thuật cho người dân vùng U Minh Hạ.
Kết quả thực hiện cho thấy dự án đã tạo nền tảng quan trọng cho việc phục hồi và phát triển nghề nuôi cá đồng tại địa phương. Dự án đã đào tạo 10 kỹ thuật viên, tổ chức 08 lớp tập huấn với 292 học viên tham gia, giúp nông dân nắm được các kỹ thuật cơ bản về cải tạo ao, ương giống, quản lý môi trường, chăm sóc và phòng bệnh cho cá nuôi. Về sản xuất giống, dự án thực hiện 03 đợt sản xuất tập trung, thu được 10.091 kg cá giống, gồm 3.474 kg cá rô đồng, 4.301 kg cá trê vàng và 2.316 kg cá lóc. Các chỉ tiêu sản lượng đều đạt và vượt so với mục tiêu đề ra.


Hình: Thu hoạch cá đồng và bồn bồn sau khi kết thúc dự án
Đối với mô hình nuôi thương phẩm, dự án triển khai trên quy mô 300 ha theo hình thức quảng canh cải tiến, phù hợp điều kiện ruộng, rừng và mương vườn của nông hộ. Tổng sản lượng cá thương phẩm thu hoạch đạt 111.503 kg, gồm 42.053 kg cá rô đồng, 38.515 kg cá trê vàng và 30.935 kg cá lóc. Tổng doanh thu từ mô hình nuôi thương phẩm đạt 8,388 tỷ đồng; tính chung cả sản xuất giống và nuôi thương phẩm, doanh thu đạt khoảng 9,871 tỷ đồng, lợi nhuận sau khi trừ chi phí trực tiếp đạt trên 6,215 tỷ đồng, bình quân khoảng 20,719 triệu đồng/ha. Những kết quả này cho thấy mô hình không chỉ đạt hiệu quả kinh tế, mà còn góp phần chủ động nguồn giống, giảm phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và nâng cao năng lực ứng dụng khoa học kỹ thuật cho người dân.
Điểm đáng chú ý là sau khi dự án kết thúc, một số hộ dân không dừng lại ở mô hình cá đồng ban đầu mà tiếp tục duy trì, điều chỉnh và phát triển theo hướng sinh kế sinh thái đa tầng, đa giá trị. Qua khảo sát thực tế ngày 10/5/2026 tại hộ ông Nguyễn Văn Triệu và ông Huỳnh Trung Kiên, ấp An Phú, xã Khánh An, tỉnh Cà Mau, cho thấy các hộ đã kế thừa nền tảng kỹ thuật từ dự án để tổ chức lại không gian sản xuất trên diện tích khoảng 01 ha/hộ. Mặt ruộng được kết hợp nuôi cá đồng với trồng bồn bồn; bờ bao được tận dụng trồng dừa, chuối, ổi, mận, xoài nhằm tạo cảnh quan sinh thái, cải thiện môi trường và tăng thêm nguồn thu trên cùng đơn vị diện tích.
Thực tế ghi nhận cho thấy mô hình đang tạo ra dòng thu nhập khá ổn định. Mỗi ngày, các hộ có nguồn thu từ cá đồng khoảng 200.000–250.000 đồng thông qua hình thức thu tỉa các loài cá rô đồng, cá lóc, cá trê vàng, cá sặc bướm và ốc bươu. Riêng bồn bồn cho thu nhập bình quân khoảng 3–4 triệu đồng/tháng, với giá bán trung bình khoảng 20.000 đồng/kg. Khi các loại cây ăn trái trên bờ bao bước vào giai đoạn cho sản phẩm ổn định, mô hình có khả năng tiếp tục gia tăng thu nhập, đồng thời giảm rủi ro so với sản xuất đơn canh.
Về giá trị khoa học và thực tiễn, mô hình cá đồng – bồn bồn – cây ăn trái thể hiện rõ tư duy canh tác tổng hợp dựa vào hệ sinh thái. Bồn bồn tạo sinh cảnh trú ẩn, góp phần ổn định môi trường nước và bổ sung nguồn hữu cơ; cá đồng và ốc bươu tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên trong ruộng, mương; cây ăn trái trên bờ bao giúp tăng độ che phủ, giảm bốc hơi nước, tạo bóng mát và cải thiện cảnh quan. Sự kết hợp này giúp hệ thống sản xuất vận hành theo hướng gần tự nhiên, giảm phụ thuộc vào đầu vào bên ngoài, đồng thời tạo ra nhiều nhóm sản phẩm có giá trị kinh tế.
Mô hình cũng phù hợp với điều kiện lao động nông hộ vùng nông thôn. Các khâu chăm sóc, thu hái bồn bồn, thu tỉa cá, chăm sóc cây ăn trái và tiêu thụ sản phẩm có thể huy động lao động tại chỗ, nhất là trong bối cảnh lao động trẻ ở nông thôn có xu hướng dịch chuyển sang các đô thị, khu công nghiệp. Về môi trường, mô hình góp phần duy trì sinh cảnh nước ngọt, tạo thảm thực vật thủy sinh, nâng cao đa dạng sinh học nông nghiệp và thích ứng tốt hơn với điều kiện biến đổi khí hậu.
Từ góc độ quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ, kết quả tại Khánh An là minh chứng rõ nét cho hiệu quả sau đầu tư của dự án. Khoa học và công nghệ không chỉ dừng lại ở việc chuyển giao quy trình, sản xuất giống hay xây dựng mô hình trình diễn, mà đã từng bước được người dân tiếp nhận, điều chỉnh và phát triển thành sinh kế thực tế. Đây là yếu tố quan trọng để đánh giá tính bền vững của một dự án khoa học và công nghệ sau khi nghiệm thu.
Tuy nhiên, để mô hình được nhân rộng hiệu quả, cần tiếp tục quan tâm một số vấn đề trọng tâm. Trước hết, cần duy trì năng lực sản xuất và cung ứng giống cá đồng chất lượng tại địa phương, vì nguồn giống ổn định là điều kiện đầu tiên để người dân yên tâm sản xuất. Thứ hai, cần tiếp tục theo dõi, đánh giá và hoàn thiện quy trình kỹ thuật riêng cho mô hình cá đồng – bồn bồn – cây ăn trái, nhất là về mật độ bồn bồn, mực nước, quản lý hữu cơ, thu hoạch cá, thu hoạch bồn bồn và bố trí cây ăn trái trên bờ bao. Thứ ba, cần hỗ trợ tổ chức lại sản xuất theo hướng nhóm hộ, tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để thống nhất quy trình kỹ thuật, chất lượng sản phẩm và kết nối thị trường.


Hình: Mô hình nuôi cá đồng của hộ ông Huỳnh Trung Kiên và Nguyễn Văn Triệu tại ấp An Phú, xã Khánh An, tỉnh Cà Mau
Bên cạnh đó, cần quan tâm hơn đến khâu sơ chế, bảo quản, bao bì, truy xuất nguồn gốc và xây dựng sản phẩm đặc trưng. Cá đồng, bồn bồn và cây ăn trái không chỉ là sản phẩm nông nghiệp, mà còn mang giá trị sinh thái, văn hóa và bản địa của vùng U Minh Hạ. Nếu được phát triển đúng hướng, mô hình có thể gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, du lịch sinh thái và chương trình OCOP của địa phương.
Có thể khẳng định, mô hình cá đồng – bồn bồn – cây ăn trái tại xã Khánh An là hướng đi phù hợp với điều kiện sinh thái vùng U Minh Hạ, góp phần chuyển hóa kết quả khoa học và công nghệ thành sinh kế bền vững cho người dân. Đây cũng là cơ sở thực tiễn quan trọng để tiếp tục đề xuất các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong giai đoạn tới, hướng đến hoàn thiện quy trình kỹ thuật, phát triển chuỗi giá trị và xây dựng sản phẩm đặc trưng của tỉnh địa đầu cực Nam của Tổ quốc.
Tiêu Hoàng Pho